lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc nghiên cứu theo kết cấu bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Quang Minh Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động Công ty Cổ phần Tập đoàn Quang Minh 9 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu Từ trƣớc đến nay cũng đã có khá nhiều đềtài nghiên cứu vềviệc quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả tài sản lƣu động của doanh nghiệp. Có thểkểđến công trinh̀y của một số tác giả: Trần Hòa Bình (2010), “Quản trị tiền mặt – Thực trạng và giải pháp ở công ty Việt Hà”; Luận văn Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Kinh tế. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị tiền mặt và nhận định vai trò của quản trị tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Võ Thị Thanh Thủy (2011), ” Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần công nghệ Phẩm Đà Nẵng”; Luận văn Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Đà Nẵng. Đã nhận định tầm quan trọng của hiệu quả sử dụng vốn trong phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp để đạt đƣợc kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Đặc biệt là chuyên đề“ Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường” của tác giả Vũ Quang Hòa đăng trên tạp chí “Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam” đã đềcập đến quan điểm , phƣơng pháp quản lý , chỉ tiêu đánh giá và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của việc sử dụng loại tài sản này. Hoàng Thị Thu, Nguyễn Hải Hành (2012), “Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp”; Tạp chí Tài chính số 10/2012.
Nghiên cứu vềthực trạng sử dụng nguồn vốn lƣu động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên cho thấy 10 việc quản lý các khoản vốn lƣu động của các doanh nghiệp đang tồn tại những khó khăn nhất định. Bài viết đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn lƣu động của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các doanh nghiệp nói chung. Trong luận án tiến sỹ của Phan Hồng Mai (2012) về “Quản lý tài sản tại các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Việt Nam”. Trong luận án của mình, tác giả đã tập trung làm rõ mỗi quan hệ giữa thu hồi công nợ và tìm kiếm nguồn tài trợ đối ứng với khoản phải thu.
Luận án “Quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam” của Đỗ Hồng Nhung (2014) đƣa ra tiền đề cần thiết để xây dựng mô hình ngân quỹ tối ƣu phù hợp với các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết Việt Nam. Trên cơ sở thống kê, phỏng vấn, phân tích, kiểm định và đánh giá thực trạng quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết Việt Nam, tác giả đã đề xuất 3 giải pháp trực tiếp (3 giải pháp về dự báo dòng tiền, xây dựng ngân quỹ tối ƣu và quản trị công nợ), nhóm giải pháp bổ trợ và kiến nghị các điều kiện để thực hiện các nhóm giải pháp này nhằm tăng cƣờng quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Các nghiên cứu trên đều đã đềcập đến những vấn đềchung vềtinh̀y hình quản lý tài sản lƣu động tại doanh nghiệp hiện nay , và đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này. Nghiên cứu của tác giả có tính kế thừa và phát huy những nghiên cứu trƣớc đây hơn nữa chƣa có nghiên cứu nào phân tích về hiệu quả tài sản lƣu động tại doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nói chung cũng nhƣ Công ty cổ phần tập đoàn Quang Minh nói riêng.
Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động của công ty cổ phần tập đoàn Quang Minh nói riêng và các công ty ngành thức 11 ăn chăn nuôi nói chung đểtim̀y giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức cần thiết.2 Cơ sở lý luận về tài sản lƣu động và hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động 1.1 Tài sản lưu động 1.1 Khái niệm Tài sản lƣu động (TSLĐ) là những tài sản ngắn hạn (có thời gian dƣới 1 năm) và thƣờng xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lƣu động đƣợc thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các khoản có tính thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thƣờng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng. Quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hƣởng rất quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.2 Phân loại tài sản lưu động Có nhiều tiêu chi khác nhau để phân loại TSLĐ.
Ở đây tác giả chỉ đề cập đến tiêu chí phân loại đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu là phân loại căn cứ theo hệ thống tài khoản kế toán trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Khi đó, TSLĐ bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền: phản ánh tổng hợp toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Trong đó, tiền đƣợc hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tƣơng đƣơng tiền là các khoản đầu tƣ ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lƣợng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tƣ đó tại thời điểm báo cáo.
12 Đầu tư tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tƣ chứng khoán có thời hạn thu hồi dƣới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (Nhƣ: tín phiếu kho bạc, Kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc các chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tƣ tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: khoản phải thu xuất hiện khi có các khoản nợ, các giao dịch chƣa thanh toán hoặc bất cứ các nghĩa vụ tiền tệ nào mà khách hàng chƣa thanh toán cho công ty. Chúng phản ánh các khoản tiền sẽ đƣợc thanh toán trong tƣơng lai. Các khoản phải thu ngắn hạn bao gồm: phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời gian thu hồi hoặc thời gian thanh toán dƣới một năm.
Tồn kho: bao gồm vật tƣ, hàng hóa, sản phẩm, dở dang đƣợc doanh nghiệp giữ trong kho. Doanh nghiệp giữ hàng tồn kho nhằm mục đích đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc đảm bảo có sản phẩm cung ứng cho ngƣời mua. Ngoài ra, việc tích trữ hàng tồn kho còn nhằm mục đích đề phòng những bất trắc nhất định trong nguồn cung, nguồn cầu, trong giao nhận hàng. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trƣớc ngắn hạn, thuế GTGT đƣợc khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nƣớc và tài sản ngắn hạn khác.3 Vai trò của tài sản lưu động - Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng.
doanh nghiệp phải bỏ ra một lƣợng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu. phục vụ cho quá trình sản xuất. Nhƣ vậy, TSLĐ là điều 13 kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác TSLĐ là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. - Ngoài ra TSLĐ còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục.
TSLĐ còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. - TSLĐ còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trƣờng doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng TSLĐ nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lƣợng TSLĐ nhất định để đầu tƣ ít nhất là đủ để dự trữ vật tƣ hàng hóa. TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp chớp đƣợc thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- TSLĐ còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tƣ. Trong doanh nghiệp sự vận động của TSLĐ phản ánh sự vận động của vật tƣ. TSLĐ nhiều hay ít là phản ánh số lƣợng vật tƣ, hàng hóa dự trữ, sử dụng ở các khâu dự trữ, sản xuất, lƣu thông nhiều hay ít. TSLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lƣợng vật tƣ sử dụng tiết kiệm hay không.
Thời gian nằm ở khâu sản xuất và lƣu thông có hợp lí hay không hợp lí. Bởi vậy thông qua tình hình vận chuyển TSLĐ có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịp thời với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. - TSLĐ còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra đƣợc tính toán trên cơ sở bù đắp đƣợc giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận.
Do đó, TSLĐ đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm 14 Hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu tăng trƣởng với chi phí tối thiểu trong một khoảng thời gian nhất định.