Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần HaBaDa Bắc Giang. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần HaBaDa Bắc Giang. -3- z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong đó một nội dung và một giá trị nhất định, vì mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu: có thể hiểu thế nào là một doanh nghiệp thông qua một số quan điểm nhƣ sau: * Xét theo quan điểm pháp luật: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. * Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó ngƣời ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do ngƣời lao động thực hiện nhằm bán ra trên thị trƣờng những sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để nhận đƣợc khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.
* Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng ngƣời sản xuất ra những của cải. Doanh nghiệp đƣợc sinh ra, phát triển, có những thất bại có những thành công, có lúc vƣợt qua những thời kỳ nguy kịch và có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp những khó khăn không vƣợt qua đƣợc. * Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các -4- z bộ phận đƣợc tổ chức có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm: Sản xuất, thƣơng mại, tổ chức, nhân sự.
Nhƣ vậy, có thể thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau khi xem xét về doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm đó đều xác định những yếu tố cốt lõi chung sau đây của doanh nghiệp: - Yếu tố tổ chức: Một tập hợp các bộ phận chuyên môn hoá nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhƣ các bộ phận sản xuất, bộ phận thƣơng mại, bộ phận hành chính. - Yếu tố sản xuất: Các nguồn lực lao động, vốn, vật tƣ, thông tin. - Yếu tố trao đổi: Những dịch vụ thƣơng mại - mua các yếu tố đầu vào, bán các sản phẩm đầu ra sao cho có lợi nhất.
- Yếu tố phân phối: Thanh toán cho các yếu tố sản xuất, thực hiện nghĩa vụ với nhà nƣớc, trích lập các quỹ và đầu tƣ cho tƣơng lai từ lợi nhuận của đơn vị. Từ những phân tích trên ta có thể khái quát chung định nghĩa về doanh nghiệp nhƣ sau: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tƣ cách pháp nhân, quy tụ các yếu tố tài chính, vật chất và con ngƣời nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng trên cơ sở đó tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội”. Các loại hình doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trƣờng có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp đƣợc phân loại nhƣ sau: * Căn cứ vào hình thức sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp đƣợc -5- z chia thành: Doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp và doanh nghiệp tƣ nhân.
- Doanh nghiệp nhà nƣớc: Là doanh nghiệp do nhà nƣớc thành lập trong đó nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ và quản lý hoạt động. - Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp: Là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau, họ cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp. Theo luật doanh nghiệp Việt Nam, loại hình doanh nghiệp này gồm: Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty Cổ phần. - Doanh nghiệp tƣ nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tƣ vốn và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hợp tác xã: Là loại hình kinh tế tập thể do những ngƣời lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. * Căn cứ vào mục đích kinh doanh, ngƣời ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. - Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là những doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo cơ chế thị trƣờng với mục tiêu là lợi nhuận. - Doanh nghiệp hoạt động công ích là doanh nghiệp thành lập để thực hiện các hoạt động sản xuất, lƣu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nƣớc hoặc thực hiện các nhiệm vụ an ninh quốc phòng.
Mục đích chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội nói chung (thông thƣờng những doanh nghiệp này là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nƣớc). Việc phân loại theo cách này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá hiệu quả -6- z hoạt động của các doanh nghiệp và là căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ của Nhà nƣớc. * Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có thể đƣợc chia thành: Doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính. - Doanh nghiệp tài chính là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính và là các tổ chức tài chính trung gian nhƣ các ngân hàng thƣơng mại, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm,.
Những doanh nghiệp này cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm,… - Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy hoạt động sản xuất kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ thông thƣờng là chủ yếu. * Căn cứ vào quy mô kinh doanh, doanh nghiệp đƣợc chia thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Hoạt động kinh doanh a. Khái niệm Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi (luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua từ ngày 18/10 đến ngày 29/11 năm 2005).
Đặc điểm của hệ thống kinh doanh - Sự phức tạp và tính đa dạng: Đó là sự kết hợp của nhiều khu vực, nhiều ngành, nhiều thời điểm, nhiều tổ chức kinh doanh, để tạo ra hàng hoá, dịch vụ cung ứng trên thị trƣờng. - Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các doanh nghiệp trên thị trƣờng hoạt động kinh doanh đều phụ thuộc lẫn nhau vì đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác và ngƣợc lại. Mặt khác, sự phụ thuộc này còn thể hiện ở chỗ, các doanh nghiệp có thể cung ứng các hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế -7- z lẫn nhau hoặc bổ sung cho nhau điều này làm hình thành quan hệ cạnh tranh và hợp tác giữa các doanh nghiệp trên thị trƣờng. Khái niệm, bản chất và sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh 1.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh theo nghĩa rộng là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt đƣợc từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bất kỳ hoạt động nào nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng đều phải đạt đƣợc kết quả hữu ích cụ thể nào đó. Đó là lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh, trong cơ chế thị trƣờng hiện nay muốn tồn tại và phát triển không có con đƣờng nào khác là doanh nghiệp phải đạt đƣợc lợi nhuận càng cao càng tốt. Từ đó doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh theo chiều rộng và chiều sâu, có đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trƣờng.
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhƣ: tình hình thị trƣờng, các chế độ chính sách của Nhà nƣớc, việc nắm vững và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, cách thức tổ chức kinh doanh, hiểu biết về đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là việc lựa chọn và thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm thứ nhất cho rằng, ở dạng khái quát nhất thì: Hiệu quả kinh doanh là kết quả quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nó biểu hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra. Trong thực tiễn cũng có ý kiến cho rằng: Hiệu quả kinh doanh thực chất là lợi nhuận và đa dạng giá trị sử dụng.
Những quan điểm trên đây thể hiện một số mặt chƣa hợp lý, một là đồng nhất giữa hiệu quả và kết quả, hai là không phân biệt rõ bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh với các chỉ tiêu biểu hiện bản chất và tiêu chuẩn đó. Cần xác định rõ sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả. Cũng nhƣ vậy, nhà kinh tế ngƣời Anh, Adam Smith cho rằng: Hiệu quả -8- z kinh doanh là kết quả đạt đƣợc trong kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá. Ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động kinh doanh.
Quan điểm này khó giải thích kết quả kinh doanh vì doanh thu có thể tăng do chi phí tăng, mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất, nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan niệm này chúng có cùng hiệu quả.