Chương 1. 4 Vai trò của việc đầu tư và quản lý tài sản hợp lý có tính chất quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Không một thị trường, không một nền kinh tế nào vĩnh viễn không thay đổi hay gặp phải biến động; hoàn cảnh mới luôn yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi, trong đó yếu tố tài sản cũng buộc phải thay đổi theo. Nếu tài sản không được đầu tư, nâng cấp, cải thiện, điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh mới, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ nhiều khả năng giậm chân tại chỗ, hoặc tụt hậu, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế mà yếu tố cạnh tranh ngày một trở nên gay gắt hơn.
Ngược lại, yếu tố tài sản mạnh thể hiện quy mô sản xuất rộng, chất lượng cơ sở hạ tầng cao, năng lực sản xuất mạnh sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm dịch vụ ưu việt, có nhiều lợi thế cạnh tranh, được hỗ trợ bởi kênh phân phối tốt, tiếp thị hiệu quả. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản Hiệu quả là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu với chi phí và nguồn lực bỏ ra để có được kết quả đó; hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của người nghiên cứu3. Có hai phương pháp đánh giá hiệu quả nói chung: Hiệu quả tuyệt đối = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào Kết quả đầu ra Hiệu quả tương đối = Chi phí đầu vào Trong đó, hiệu quả tuyệt đối giúp đánh giá từng đối tượng cụ thể, còn hiệu quả tương đối cho cái nhìn tổng quát hơn về nhiều đối tượng có mối liên hệ với nhau, tạo điều kiện cho nghiên cứu hiệu quả toàn diện.
Có hai nhóm chỉ tiêu hiệu quả chính là hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả xã hội có kết quả đầu ra là lợi ích cho xã hội như việc làm, phúc lợi, thu nhập, đời sống tinh thần, cung cầu hàng hóa, v. Hiệu quả kinh tế trong khi đó phản ánh kết quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế đạt được và chi phí đã bỏ ra. Đối với chủ thể là doanh ngiệp, hiệu quả kinh tế là tương quan giữa doanh thu, lợi nhuận bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ với giá vốn, dịch vụ hàng bán; giữa kết quả sản xuất kinh doanh đạt được với mục tiêu kinh tế đã đề ra.
Nguyễn Năng Phúc (2012), Giáo trình phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, chương 6. 5 Thang Long University Library Xét trên mọi khía cạnh, hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là việc tối ưu hóa lợi nhuận từ việc khai thác, sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Hầu hết các doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì mục tiêu cuối cùng là đối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Để đạt được mục tiêu này, có hai phương pháp cốt lõi: nâng cao kết quả kinh doanh – tăng doanh thu, và tối ưu hóa chi phí & nguồn lực – giảm chi phí; một trong những nghiệm chung của hai bài toán này là hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Bởi quản lý tài sản tốt không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sản xuất mà còn nâng cao năng suất. Với tài sản ngắn hạn, quản lý chặt chẽ góp phần làm giảm chi phí sản xuất, hạ nguyên giá sản phẩm, từ đó nâng cao lợi nhuận. Với tài sản dài hạn, với đặc điểm liên tục biến đổi về quy mô, kết cấu và tình trạng kỹ thuật, đòi hỏi chi phí và nguồn lực để duy trì điều kiện hoạt động; quản lý tốt góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, tối ưu hóa lợi nhuận.
Như đã trình bày, đầu tư và quản lý tài sản hợp lý có tính chất quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng, năng lực quản lý tài sản giúp cho hoạt động của doanh nghiệp bắt kịp với những thay đổi của thị trường và biến động của bối cảnh kinh tế; giúp doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm dịch vụ ưu việt hơn. Trong thời điểm khó khăn, quản lý tài sản hiệu quả còn có vai trò then chốt trong sự sống còn của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản5 1.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản Tỷ suất sinh lời của tài Lợi nhuận sau thuế = sản (ROA) Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản, thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Mô hình Dupont 4 PGS-TS. Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê, chương 8 5 Các chỉ tiêu dưới đây được tham khảo và tổng hợp từ các nguồn số … trong Danh mục Tham khảo đính kèm tài liệu này. 6 Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tỷ suất sinh lời của = = x tài sản (ROA) Tổng tài sản Doanh thu Tổng tài sản Tỷ suất sinh lời của Tỷ suất sinh lời của doanh Hiệu suất sử dụng tổng tài = x tài sản (ROA) thu (ROS) sản (SOA) Đây là công cụ dùng để phân tích khả năng sinh lời của mỗi đồng tài sản mà doanh nghiệp sử dụng.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng và tỷ suất sinh lời của tài sản, doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chi phí, cũng như nâng cao tỷ suất sinh lời của doanh thu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có biện pháp tối ưu hóa năng lực sử dụng tài sản, và nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Theo mô hình này, Tỷ suất sinh lời chịu ảnh hưởng bởi Tỷ suất sinh lời của doanh thu và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Trong đó tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần phụ thuộc vào Doanh thu và Lợi nhuận sau thuế, là hai chỉ tiêu có quan hệ mật thiết thông qua tổng chi phí.
Từ đó ta thấy để nâng cao tỷ suất sinh lời của doanh thu cũng như của tài sản thì cần phải quản lý chi phí tốt để lợi nhuận được tối đa. Trong khi đó, Hiệu suất sử dụng tổng tài sản phụ thuộc vào Doanh thu và Tổng tài sản; doanh thu càng lớn và tổng tài sản càng nhỏ thì Hiệu suất này càng cao. Hiệu suất sử dụng tổng tài Doanh thu thuần = sản (SOA) Tổng tài sản Còn gọi là số vòng quay tài sản, chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản luân chuyển nhanh, làm tăng doanh thu và do đó nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ tài sản luân chuyển chậm, có thể hàng tồn kho, sản phẩm dở dang nhiều, doanh thu giảm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và đặc điểm cụ thể của tài sản trong doanh nghiệp. Suất hao phí của Tổng tài sản = Tổng tài sản Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, chứng tỏ doanh nghiệp đang khai thác tài sản một cách tối ưu để nâng cao doanh thu. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nhóm các chỉ tiêu khả năng thanh toán 7 Thang Long University Library Tài sản ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện hành = Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nếu hệ số lớn hơn hoặc bằng một, doanh nghiệp có đủ năng lực thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn. Nếu hệ số bé hơn một, ngược lại, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.
Nếu hệ số này cao, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Hệ số thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng còn được gọi là tài sản có tính thanh khoản, tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Do đó, hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào hàng tồn kho.
Nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng một, cho thấy doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn với tài sản có tính thanh khoản cao. Ngược lại, hệ số bé hơn một chứng tỏ doanh nghiệp không đủ năng lực thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản có tính thanh khoản cao. Tiền và tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp chỉ cho biết mức độ bình thường mà chưa đủ cơ sở để khẳng định doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn hay không. Vì thế, khi phân tích về khả năng thanh toán cần phải sử dụng hệ số khả năng thanh toán tức thời.
Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn hay không.