CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản về TSNH trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Theo thông tư 133/2016/TT-BTC, “Tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh thông thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.” Theo “Quản trị Tài chính Doanh nghiệp” – Trường Đại học Thăng Long: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là tất cả những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn trong một năm (nếu chu kỳ kinh doanh < 1 năm) hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh > 1 năm).
Chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn và kinh doanh dưới hình thái tiền tệ lại thu được vốn đó dưới hình thái tiền tệ. Tùy theo lĩnh vực kinh doanh mà chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất, đó là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền mua vật tư, chế biến vật liệu đó thành sản phẩm và bán được sản phẩm đó. Đối với doanh nghiệp thương mại, chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi bỏ tiền mua hàng hóa và đem bán được hàng hóa đó.” Ta có thể thấy tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu thiếu hụt hoặc không có tài sản ngắn hạn thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chắc chắn sẽ không xảy ra.
Tài sản ngắn hạn là loại tài sản tồn tại và được sử dụng trong 1 khoảng thời gian ngắn. Tài sản ngắn hạn thì đại diện cho tất cả tài sản của doanh nghiệp sẽ được sử dụng và thu hồi trong vòng 1 năm hoặc một chu kỳ, và thường chiếm tỷ trọng lớn khoảng 25 – 50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đặc điểm tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông, quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và lưu chuyển của tài sản ngắn hạn. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện.
Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của tài sản được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hoàn thành một vòng chu chuyển. 1 Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu chi phí lớn.
Khác với đầu tư cho tài sản dài hạn, các khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém do tài sản ngắn hạn phải đáp ứng nhanh với sự thay đổi của doanh thu và quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, tài sản ngắn hạn chịu sự lệ thuộc nhiều vào những dao động mang tính thời vụ và chu kỳ kinh doanh. Tóm lại, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất, vận động và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên vận động rất phức tạp và khó quản lý. Phân loại tài sản ngắn hạn Về mặt bản chất, tài sản ngắn hạn (TSNH) bao gồm các tài sản dự kiến được chuyển đổi thành tiền trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH trong doanh nghiệp thường được phân loại theo 2 cách chính: phân loại theo hình thái biểu hiện hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển của tài sản. Khi phân loại theo hình thái biểu hiện, TSNH bao gồm: Ngân quỹ: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, vàng bạc, kim khí, đá quý và các loại ngoại hối.
Thêm vào đó, các khoản đầu tư ngắn hạn có thể thu hồi và chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn (không quá 3 tháng) hoặc chuyển đổi thành tiền dễ dàng như kỳ phiếu ngân hàng tín phiếu kho bạc cũng có thể được xem xét tương đương như tài sản tiền. Trong tất cả các loại tài sản trong doanh nghiệp, tài sản tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, là phương tiện để doanh nghiệp thanh toán nhằm đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp. Khoản phải thu: Tài sản này bao gồm ghi nhận về những số tiền cần phải thu của khách hàng và các đối tượng có liên quan hoặc tiền tạm ứng trước mà chưa 2 Thư viện ĐH Thăng Long nhận được hàng hoá. Khi doanh nghiệp thu hồi những khoản phải thu này, ngân quỹ sẽ được bổ sung.
Do đó, có thể thấy tài sản tiền và khoản phải thu có quan hệ mật thiết với nhau, đòi hỏi việc quản trị hai tài sản này cần có sự chú trọng cụ thể. Dự trữ: Tài sản này bao gồm toàn bộ những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hàng hoá đi đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất dở dang, thành phẩm; những tài sản này tuy không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất to lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. a) Phân loại TSNH theo lĩnh vực và thời gian luân chuyển Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nguyên vật liệu lưu kho, công cụ dụng cụ lưu kho. Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các loại chi phí sản xuất dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển.
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm lưu kho, hàng gửi bán, các khoản phải thu khách hàng. b) Phân loại TSNH theo hình thái biểu hiện Tiền và các khoản tương đương tiền: tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền gửi ngân hàng là toàn bộ số tiền doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước và các tổ chức tài chính. Tiền đang chuyển là tiền doanh nghiệp đã gửi vào ngân hàng, kho bạc, các tổ chức tài chính nhưng chưa nhận được giấy báo có.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro. Dự trữ: dự trữ bao gồm hàng mua về để bán, thành phẩm lưu kho, thành phẩm gửi đi bán, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ lưu kho. Dự trữ thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, việc thiếu hụt dự trữ sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu lượng dự trữ dư thừa quá nhiều cũng khiến doanh nghiệp đối mặt với những khó khăn: chi phí lưu kho tăng, dự trữ bị hư hỏng.
Các khoản phải thu: đây là các khoản doanh nghiệp bị tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khác chiếm dụng. Các khoản này bao gồm: phải thu khách hàng, ứng trước cho 3 người bán, phải thu khác. Việc cung cấp tín dụng cho khách hàng là một hoạt động không thể thiếu giúp lượng tiêu thụ hàng hóa - dịch vụ của doanh nghiệp phát triển hơn, tuy nhiên doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trước khi cung cấp tín dụng cho khách hàng, tránh tình trạng nợ khó đòi. Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn.
Đây là tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước và thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn. Vai trò của TSNH trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - là một trong những nguồn lực quan trọng của sản xuất kinh doanh, nếu thiếu hụt hoặc không có tài sản ngắn hạn thì hoạt động của doanh nghiệp chắn chắn không thể diễn ra bình thường được.
Đây là yếu tố cần thiết để thực hiện mục đích gia tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường kinh tế. Nếu doanh nghiệp biết sử dụng tài sản ngắn hạn một cách khoa học, hiệu quả, điều này sẽ giúp hoạt động kinh doanh trơn tru, mang về nguồn lợi nhuận lớn, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển đi lên. Việc thiết lập chế độ quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích như: Thứ nhất, đảm bảo được khả năng tự chủ, linh hoạt về tài chính cho doanh nghiệp, góp phần giảm rủi ro trong kinh doanh. Tài sản được sử dụng có hiệu quả tức là doanh nghiệp sẽ không phải đi vay nhiều, khả năng thanh toán ở mức có thể chủ động được, không bị động khi các tình huống bất ngờ xảy ra.
Thứ hai, tiết kiệm được các nguồn lực, tăng hiệu quả kinh tế.