Chương 1 đã tập trung tìm hiểu các nghiên cứu quốc tế và trong nước về đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn”, từ đó đưa ra khoảng trống nghiên cứu với Khoá luận đang thực hiện. Đây là nền tảng để khóa luận đưa ra những cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 2.
Khái niệm Theo Lưu Thị Hương (2011): “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho”. Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu. Tuy là yếu tố tồn tại trong ngắn hạn đúng như tên gọi nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của công ty.
Từ những quan điểm trên về tài sản ngắn hạn, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ nhất về tài sản ngắn hạn như sau: Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế.
Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau: 8 Thứ nhất: Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luôn vận hành, thay thế và chuyển hóa cho nhau qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Sự hình thành tài sản ngắn hạn đòi hỏi phải có luợng vốn ngắn hạn để mua sắm mới hình thành nên.
Do đó, tài sản ngắn hạn được hình thành từ nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai: Tài sản ngắn hạn có đặc điểm là luôn luôn luân chuyển, không ngừng thay đổi hình thái biểu hiện (trừ công cụ, dụng cụ lao động) qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo một vòng khép kín. Quá trình diễn ra liên tục và được lặp lại sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn chu chuyển vốn ngắn hạn. Thứ ba: Tài sản ngắn hạn được hình thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thường xuyên, liên tục, toàn bộ giá trị của tài sản ngắn hạn được chuyển vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh.
Do đó, toàn bộ giá trị được chuyển một lần vào thành phẩm và thu hồi thông qua doanh thu bán hàng. Thứ tư: Tài sản ngắn hạn tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, tài sản ngắn hạn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, thuận tiện. Thứ năm: Tài sản ngắn hạn phục vụ cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
Do đó, khi tham gia vào quá trình sản xuấ kinh doanh, tài sản ngắn hạn phải được phân bổ vào tất cả các khâu và luôn vận hành, thay thế, chuyển hoá cho nhau qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Vai trò của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản dài hạn như: máy móc, nhà xưởng, … doanh nghiệp cũng bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hoá, nguyên vật liệu,… phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện để một doanh nghiệp đi vào hoạt 9 động sản xuất kinh doanh.
Thông qua sự vận động của tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được tình hình dự trữ, tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Điều này chúng ta không thể nhận thấy qua sự vận động của tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận hành liên tục, không bị gián đoạn. Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian.
Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán dễ khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ. Tài sản ngắn hạn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp một cách đắc lực trong việc thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tài sản ngắn hạn còn tạo lập quan hệ với khách hàng.
Việc tài sản ngắn hạn của công ty được sử dụng có hiệu quả hay không được ghi chép trong hồ sơ tín dụng thương mại của khách hàng, đối tác dựa vào đó để đưa ra đánh giá xem có hợp tác hay không. Các công ty dựa vào mức độ thương mại của doanh nghiệp đang xem xét để đưa ra những quyết định chắc chắn, bao gồm việc bán hàng, cho vay, cho thuê, tăng nợ tín dụng, tiêu thụ hàng tồn kho với giá cạnh tranh,… 2. Phân loại tài sản ngắn hạn Để có thể sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả thì phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau là rất cần thiết. Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản ngắn hạn tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý.
Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2015) đưa ra hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: Phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng có một số tiêu thức khác để phân loại tài sản ngắn hạn. Phân loại theo hình thái biểu hiện * Tiền và các khoản tương đương tiền - Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán.
Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Tuy nhiên, đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán cũng như không quá lớn để tránh lãng phí, ứ đọng vốn trong doanh nghiệp. - Các khoản tương đương tiền: là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo. * Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, .) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm hoặc một chu kì kinh doanh, không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng, kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo đã được tính vào “khoản tương đương tiền”.
Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. * Các khoản phải thu Là toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác: phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác và dự phòng các khoản phải thu khó đòi. 11 Trong các doanh nghiệp, việc mua bán chịu là thường xuyên xảy ra, đôi khi để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng kinh tế doanh nghiệp phải trả trước một khoản nào đó, từ đây nó hình thành nên các khoản thu của doanh nghiệp. Khi các khách trả nợ của doanh nghiệp gặp thất bại, rủi ro trong kinh doanh là nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợ khó đòi.
Vì vậy, việc trích lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và tương đối ổn định. Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và là một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp * Hàng tồn kho Bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần có nguyên vật liệu dự trữ. Trên thực tế hàng tồn kho bao gồm hàng trăm loại khác nhau, tuy nhiên có thể phân thành các nhóm chính sau: - Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ.