Chương 1: Khái quát pháp luật hình sự Việt Nam về tội trốn khỏi nơi 7 z giam, giữ. - Chương 2: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội trốn khỏi nơi giam, giữ. - Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trốn khỏi nơi giam, giữ. Tiến độ thực hiện đề tài - Từ 20/10/2005 đến 20/12/2005 bảo vệ đề cương.
- Từ 20/12/2006 đến 20/4/2006 nộp sơ thảo lần I cho giáo viên - Từ 20/4/2006 đến 20/8/2006 chỉnh sửa và nộp bản thảo lần II. - Từ 20/8/2006 đến 20/9/2006 hoàn chỉnh và nộp cho khoa luật. 8 z 9 z Chƣơng 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỐN KHỎI NƠI GIAM, GIỮ 1. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ trong pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ trƣớc 1945 1.
Tội trốn khỏi nơi giam, giữ trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long Bộ luật Hồng Đức được biên soạn và ban hành dưới triều Lê Thánh tông niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) bao gồm 6 quyển, 722 điều, 13 chương trong đó một chương quy định chung về tội phạm và hình phạt. Đây là bộ luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội lúc bấy giờ gồm cả quan hệ hình sự, tố tụng hình sự cả quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình. Ngay từ thời kỳ này nhà nước phong kiến Việt Nam đã có sự quan tâm đối với các loại tội phạm về lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trong 722 điều luật đã có đến 13 điều ở chương 12 (chương Bộ vong) quy định các vấn đề về tội phạm bỏ trốn. Trong bộ luật đã quy định rất chặt chẽ về loại tội phạm này, cụ thể là với một hành vi của người phạm tội bỏ trốn thì bộ luật còn quy định các chế tài khác có liên quan như Điều 651: “ Người coi tù để mất tù thì biếm một tư, cho hạn 100 ngày để bắt lại.
Bắt không được thì bị tội nhẹ hơn tù trốn 2 bực…… Quan án không biết hay biết thì bị phạt 30 quan tiền, quan án bực dưới bị biếm một tư. Nếu biết mà còn dung túng thì thêm một bực tội. [14] Các chế tài xử phạt đối với tướng lĩnh đi bắt kẻ chạy trốn không hoàn thành nhiệm vụ Điều 645, quy định trách nhiệm bắt phạm nhân Điều 647, thôn xã chứa chấp kẻ bỏ trốn Điêu 657, che giấu kẻ bỏ trốn Điều 654, xử phạt kẻ làm lộ tin đuổi bắt phạm nhân để phạm nhân trốn thoát Điều 648. Điều 652 quy định về chống lại ngục quan để trốn chạy, Điều 653 quy định những kẻ chạy ra nước ngoài thì xử tội phản nghịch, tịch biên gia sản, vợ con sung công.
Bộ luật Hồng Đức quy định rất rõ và rất nhiều hành vi bỏ trốn bị xử 10 z phạt và hình phạt cũng rất nghiêm khắc Điều 650 “ Những bị tội lưu, đồ chưa đến hạn tha mà bỏ trốn thì đều xử chém. Người cai quản lơ đễng để tù đồ, lưu trốn thì thì xử nhẹ hơn ba bực tội tù trốn đó, quan ti, giám đương bị xử biếm, phạt. Cố ý thả cho tù trốn thì xử đồng tội với nó. Nếu bắt lại được thì được trừ tội.
Tù phạm trốn đến làng xã nào thì quan xã đó phải bắt nộp quan. Nếu dung túng bao che thì xử tội như tù trốn đó, nhưng nhẹ hơn một bực.” [14] Như vậy từ thế kỷ XV nhà nước phong kiến đã rất quan tâm đến việc cai quản tù nhân và nghiêm trị những hành vi xâm phạm đến việc quy định của nhà nước. Trong Bộ luật Hồng Đức quy định nhiều hành vi liên quan đến hành vi bỏ trốn của phạm nhân. Những hành vi này đều bị xử lý về hình sự như hành vi bỏ trốn của phạm nhân, hành vi bao che người bỏ trốn, không tố giác người bỏ trốn, chứa chấp người bỏ trốn, hành vi cai tù để phạm nhân bỏ trốn, hành vi truy bắt người bỏ trốn không đạt kết quả… Các hành vi trên đều bị xử lý rất nghiêm khắc, các tù nhân bị lưu hay đồ mà bỏ trốn thì đều phải chịu chung một hình phạt như nhau là chém (tử hình), các hành vi khác liên quan đến tù nhân bỏ trốn của những người coi ngục, quan ty giám, người che giấu… đều bị coi là có tội và đều bị xử phạt.
Hoàng Việt Luật Lệ (hay còn gọi là Bộ Luật Gia Long) là một trong hai Bộ luật lớn nhất của các triều đình phong kiến Việt Nam được ban hành vào năm Gia Long thứ 12- Tây lịch 1813. [15] Bộ luật được xây dựng dựa trên sự đúc kết của luật nhà Thanh (Trung Quốc) và Bộ luật Hồng Đức - gồm có 398 điều chia thành 22 quyển điều chỉnh hầu hét các quan hệ trong xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Các triều đại nhà Nguyễn sau này đều trị vì đất nước thông qua Bộ luật này. Trong Bộ luật có các điều quy định về tội phạm bỏ trốn như: Quy định các hành vi bỏ trốn của người là tội phạm, các hành vi liên quan đến tội phạm bỏ trốn tại các điều.
- Điều 24 Người phạm tội cùng trốn (Mục về luật lệ) - Điều 354 Tù trốn khỏi nhà giam và phản đối giam, đang trốn 11 z - Điều 355 Tội lưu dồ bỏ trốn - Điều 357 Coi tù nhân không cẩn thận bị xẩy tù - Điều 358 Biết tình mà chứa giấu tội nhân - Điều 364 Cho người tù dao nhọn để họ trốn thoát Trong Bộ luật Gia Long cũng quy định rất nhiều hành vi liên quan đến việc bỏ trốn kể cả các hành vi bỏ trốn khi bị dẫn giải, khi đang hỏi cung…Hình phạt cũng rất nghiêm khắc, đối với tù nhân bị lưu, đồ bỏ trốn ở nơi làm việc hoặc trong khi dẫn giải thì đều chung hình phạt: Mỗi ngày 50 roi, 30 ngày thêm bực tội. Tuy nhiên so với Điều 650 Bộ luật Hồng Đức thì nhẹ hơn rất nhiều (hình phạt đối với tội lưu, đồ mà bỏ trốn là chém). Đối với tù trốn khỏi nơi giam, giữ, tù phá ngục chạy trốn thì những tù nhân phạm tội roi, trượng, đồ, lưu đang bị giam, giữ cầm mà trốn thoát nhà giam, giữ và tự mở xiềng xích vượt ngục trốn thì tăng hai bực tội đã phạm. Nếu cùng bỏ trốn thì mức phạt nặng hơn là phạt trăm trượng, lưu ba ngàn dặm.
Các hành vi phá ngục của chạy trốn thì không phân biệt tội nặng nhẹ đều bị tội chém. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ trong các bộ luật thời Pháp thuộc Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đất nước ta bị chia cắt thành: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ ứng với mỗi vùng miền này thực dân Pháp ban hành một bộ luật thay thế cho Bộ luật Gia Long đang áp dụng trên cả nước. Đó là Bộ luật hình An nam năm 1921 ở Bắc Kỳ, Bộ Hoàng Việt hình luật năm 1933 ở Trung kỳ, Bộ luật Canh Cải năm 1912 ở Nam Kỳ. Các bộ luật này cũng đều có các quy định về tội trốn khỏi nơi giam, giữ.
Theo Bộ Hoàng Việt hình luật áp dụng tại Trung kỳ thì tội trốn khỏi nơi giam và hình phạt được quy định tại chương 15: Tù phạm trốn tránh chức trách người canh giữ…bao gồm 11 điều từ Điều 234 đến Điều 244 quy định các hành vi bỏ trốn được coi là tội phạm. Như các quy định về tù nhân phạm tội đại hình bỏ trốn (Điều 235), hành hung, dùng thủ đoạn, được giúp sức để bỏ trốn (Điều 237), trốn khi đã thành án mà đang bị giam hoặc đang bị dẫn giải (Điều 243), các quy định về hành vi cũng như các chế tài cũng rất rõ ràng như 12 z quy định tại Điều 244: “… người phạm nào đã bị bắt hoặc bị giam mà toan trốn đi hoặc đã trốn đi, chỉ riêng về việc trốn đi đó mà nghĩ xử nếu người phạm ấy mà can cứu hoặc can án thuộc về tội trừng trị: mà toan trốn đi sẽ phải tội phạt giam, giữ từ 1 đến 6 tháng, nếu trốn đi sẽ phải phạt giam từ 6 tháng đến 1 năm, nếu can cứu hoặc can án về tội đại hình mà toan trốn đi sẽ phải phạt giam từ 2 đế 3 năm, đã trốn đi sẽ phải phạt giam từ 4 năm đến 5 năm. Khi nào trốn đi hoặc toan trốn đi mà có hành hung hoặc dùng cách leo trèo xoi phá, nếu can cứu hoặc can án về tội trừng trị sẽ phải tội phạt giam từ 4 năm đến 5 năm, nếu can cứu hoặc can án thuộc về tội đại hình sẽ phải tội khổ sai từ 5 năm đến 10 năm, trừ ra trong khi hành hung, người đào phạm lại can một tội đại hình khác, thì sẽ theo tội nặng hơn mà nghĩ xử”. Điều luật quy định tội phạm là những người bị bắt, bị giam, tạm giam, mà bỏ trốn và kể cả trường hợp chuẩn bị trốn cũng bị xử lý theo bộ luật này.
Như vậy, có thể thấy các triều đại phong kiến (kể cả thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta) đều quy định về tội trốn khỏi nơi giam với hình phạt rất nghiêm khắc. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ trong pháp luật hình sự Việt Nam từ 1945 đến 1985 1. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ trong pháp luật hình sự Việt Nam trước khi pháp điển hóa luật hình sự lần thứ nhất Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời với Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, bộ máy Nhà nước kiểu mới trong đó có các thiết chế tư pháp đã được thiết lập. Để thực hiện quyền lực tư pháp, các cơ quan tư pháp được thành lập nhằm bảo vệ chính quyền non trẻ, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 trong khi Nhà nước chưa ban hành được pháp luật thống nhất trong cả nước thì các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với chính thể dân chủ cộng hoà và không phương 13 z hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Vì thế tội trốn khỏi nơi giam, giữ được quy định trong các Bộ luật cũ vẫn tạm thời được áp dụng. Đến ngày 10-7-1959 Toà án nhân dân tối cao ra chỉ thị số 772-TATC cho các toà án đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc và phong kiến (trước đấy Bộ Tư pháp cũng đã ra thông tư số 19-VHH/HS ngày 30-6-1955 yêu cầu toà án không nên áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến).