Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Để có thể xây dựng khái niệm tội trộm cắp tài sản đòi hỏi phải nghiên cứu các định nghĩa về tội này trong các sách báo pháp lý: Theo TS. Phạm Hồng Hải thì: “Tội trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác …” [63, tr.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì“trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý” [15, tr.
283] Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ …” [51, tr. 33] Như vậy, dựa trên các định nghĩa tội trộm cắp tài sản trong các các tài liệu nêu trên cho thấy các tác giả đều thống nhất đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Để đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản, trước hết cần phải đảm bảo khái niệm tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015. Trong khoa học pháp lý hình sự, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” [52, tr.
60] Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý. Với tư cách là một tội phạm, tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu chung của tội phạm: - Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. 8 Tội trộm cắp tài sản có tính nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở chỗ nó gây thiệt hại cho quyền sở hữu của người khác. Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định thông qua các tính tiết như: thiệt hại về tài sản mà tội phạm đã gây ra, thủ đoạn phạm tội, mức độ lỗi cố ý, động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân người phạm tội … Tội trộm cắp tài sản phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, bởi vì những hành vi trộm cắp tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm không đáng kể thì không bị coi là tội phạm (khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015).
Đặc điểm này có ý nghĩa quan trong về mặt lý luận là khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản phải đảm bảo yêu cầu là cấu thành cơ bản tội trộm cắp tài sản phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. - Thứ hai, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính có lỗi. Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Người phạm tội phải có lỗi khi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm thì việc áp dụng hình phạt đối với người đó mới có thể đạt được mục đích chủ yếu của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội.
Lỗi của tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và hậu quả do hành vi đó gây ra. Đặc điểm này đòi hỏi khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản phải đảm bảo yêu cầu là phải thể hiện cho được lỗi của tội trộm cắp tài sản trong cấu thành cơ bản chỉ là lỗi cố ý trực tiếp; trường hợp hỗn hợp lỗi (nếu có) chỉ có trong cấu thành tội phạm tăng nặng. - Thứ ba, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính trái pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015 thì hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu hành vi đó “được quy định trong Bộ luật hình sự.” và Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Do đó, tính trái pháp luật thể hiện ở chỗ tội trộm cắp sản phải được quy định trong luật 9 hình sự. Đây là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế và là sự cụ thể cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS năm 2015). Tội trộm cắp tài sản là một tội phạm được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 nên khi xác định hành vi trộm cắp tài sản gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội là tội phạm thì phải xác định nó có đầy đủ các dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS (cấu thành tội phạm cơ bản). - Thứ tư, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính phải chịu hình phạt Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS.
Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không có tội phạm thì không có hình phạt. Tính chịu hình phạt của tội trộm cắp tài sản được thể hiện ở chỗ nó luôn phải đe dọa phải chịu hình phạt do việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tội trộm cắp tài sản là một tội phạm được quy định tại Điều 173 BLHS nên khi một người phạm tội trộm cắp tài sản thì người đó có thể phải chịu hình phạt theo mức hình phạt được quy định trong BLHS. Tuy nhiên, tội trộm cắp tài sản “có thể” phải chịu hình phạt bởi vì trong một số trường hợp đặc biệt như: miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt … thì người phạm tội trộm cắp tài sản không phải chịu hình phạt.
Hình phạt đối với hành vi trộm cắp tài sản chính là hình thức phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội này, thể hiện tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội này. Như vậy, tội trộm cắp tài sản có đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm, đây là tiền đề quan trọng để Luận văn phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015. Theo quy định tại Điều 173 BLHS có thể thấy tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu pháp lý như sau: * Khách thể của tội trộm cắp tài sản Khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu, cụ thể là quyền 10 chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản đối với tài sản bị trộm cắp.
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản. Tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền về tài sản. Vật là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn các điều kiện sau: (1) Phải là sản phẩm lao động của con người; (2) Không có tính chất và công dụng đặc biệt; (3) Chưa bị chủ tài sản hủy bỏ. Tiền luôn là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.
Giấy tờ có giá chỉ là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu khi nó vô danh. Quyền về tài sản không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. * Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản.
Thông thường, người phạm tội cũng có tâm lý muốn che giấu hành vi phạm tội của mình đối với cả người không có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng đây không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản. Trong khoa học pháp lý hình sự, cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật, hành vi trộm cắp tài sản được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội đã chiếm hữu được tài sản trên thực tế. Để xác định thời điểm tài sản đã được chiếm hữu trên thực tế, cần phải cân nhắc trên cơ sở dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt được. 34] o Nếu vật bị chiếm đoạt nhỏ gọn thì coi là đã chiếm đoạt được khi người phạm tội đã lấy được tài sản; o Nếu vật chiếm đoạt được không thuộc loại nói trên thì có là chiếm đoạt được khi đã mang vật đó ra khỏi khu vực bảo quản; o Nếu vật chiếm đoạt để ở nơi không hình thành khu vực bảo quản riêng thì coi là chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản đó ra khỏi vị trí ban đầu và có khả năng chi phối, chiếm hữu tài sản đó trên thực tế.
Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng phải có thêm các dấu hiệu được quy định tại các điểm a,b,c,d khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Giữa hành vi trộm cắp tài sản và hậu quả là thiệt hại về 11 vật chất phải tồn tại mối quan hệ nhân quả. * Chủ thể của tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản đòi hỏi chủ thể của tội phạm chỉ cần thỏa mãn hai điều kiện là có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS. Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản trong mọi trường hợp; người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS trong trường hợp phạm tội tại khoản 3, 4 Điều 173 BLHS năm 2015.
* Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội trộm cắp tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, họ mong muốn chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân. Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản, còn mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của tội này. Cấu thành tăng nặng của Tội trộm cắp tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 2015.