Chương 1: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LOẠN LUÂN TRONG LỊCH SỬ Ngay từ khi con người mới chỉ bắt đầu tách ra khỏi thiên nhiên, chưa sản xuất ra được một thứ nào cả, chỉ hái lượm những thức ăn sẵn có trong thiên nhiên. Lúc này xã hội loài người có quan hệ tính giao cộng hôn. Xã hội lúc đó chia ra thành các bộ lạc và quan hệ tính giao của con người ở đây không có sự chọn lọc ngôi thứ thích thuộc. Thời kỳ này kéo dài hàng trăm năm hoặc có thể hàng triệu năm.
Sau đó quan hệ tính giao được giới hạn nhất định đó là khi quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ. Mỗi thế hệ (thế hệ cha mẹ, thế hệ các con) tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định. Quan hệ tính giao chỉ được phép trong giới hạn này. Nhưng cũng ngay từ thời điểm này quan hệ tính giao đã bị cấm giữa những người có quan hệ dòng máu trực hệ, cấm giữa cha mẹ và các con.
Sang đến thời kỳ hình thành gia đình Punaluan thì quan hệ tính giao không những cấm giữa thế hệ cha mẹ với thế hệ các con mà còn cấm giữa anh em trai với chị em gái trong cùng một gia đình. Sang đến gia đình đối ngẫu thì quan hệ hôn nhân ngày càng được thu hẹp lại, từ chỗ anh em trai và chị em gái, bây giờ loại trừ cả anh em, chị em họ hàng ở hàng chú bác, cháu chắt và những người họ hàng xa khác. Hôn nhân một vợ một chồng thay thế các chế độ hôn nhân lạc hậu khác. Nó đã khẳng định một bước tiến trong quan hệ hôn nhân gia đình và trong mối quan hệ có tính giao.
Thời kỳ phong kiến Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Xét về phương diện khách quan, Nhà nước và Pháp luật cùng phát sinh từ một nguồn gốc, là kết quả của sự phát triển kinh tế và phân hóa xã hội. Xét về phương diện chủ quan, pháp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và trở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ lực lượng của giai cấp thống trị, điều hành và quản lý xã hội. Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thủy trước đây, quan hệ giữa các thành viên được điều chỉnh bằng phong tục, tập quán với tính cách là mô thức của hành vi, điều chỉnh các quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội.
Đến một giai đoạn nhất định các tập quán đó đã không còn phù hợp nữa. Khi nhà nước được hình thành, quốc gia được xác lập, các mối quan hệ xã hội phát triển cả về phạm vi, mức độ và tính chất thì phong tục, tập quán không còn có khả năng để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội đó. Để đáp ứng nhu cầu khách quan đó, một loại quy phạm mới khác hẳn với phong tục, tập quán đã ra đời. Đó là Pháp luật.
Theo sự phân tích ở trên thì vào cuối thời đại Hùng Vương, khi nhà nước xuất hiện thì cũng đồng thời có sự xuất hiện của pháp luật. Tuy nhiên pháp luật thời kỳ này chỉ được phản ánh một cách gián tiếp, mơ hồ trong truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, trong đó, giữa luật lệ và phong tục tập quán vẫn chưa có ranh giới rõ ràng. Pháp luật thời kỳ này giống pháp luật của nhà Hán tuy nhiên vẫn có sự khác biệt. Sau này sang đến thời kỳ Bắc thuộc thì pháp luật Trung Hoa phong kiến đã được áp dụng tại Việt Nam (Bộ luật nhà Hán và bộ Luật nhà Đường).
Trong giai đoạn này, luật tục của người Việt vẫn được tồn tại và nó tồn tại dưới hình thức là lệ làng. Do luật tục đó được chính quyền đô hộ phải mặc nhiên thừa nhận nên nó có không gian rộng lớn là các làng xã, có đối tượng điều chỉnh là đại đa số cư dân người Việt và chủ yếu ở các lĩnh vực hôn nhân gia đình, dân sự, quan hệ ruộng đất trong nội bộ làng xã. Pháp luật thời kỳ này chủ yếu về chống tham nhũng và về ruộng đất. Ngay sau khi cướp được nước ta, bọn phong kiến phương Bắc đã thủ tiêu chủ quyền quốc gia, xóa bỏ thể chế của các nhà nước thời vua Hùng, vua Thục.
Nhưng trong suốt thời gian thống trị nước ta chúng vẫn không thể làm biến đổi nổi cơ cấu xóm làng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ truyền của người Việt. Các xóm làng dựa trên cơ sở công xã nông thôn vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt. Đó chính là nơi nuôi dưỡng và phát triển những tinh hoa của nền văn hóa truyền thống. Sự tồn tại phổ biến của văn hóa làng xã đã giúp người Việt giữ được tính tự trị trong suốt thời gian dài.
Hầu như không có thời gian nào là không có những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, không một lúc nào bọn phong kiến phương Bắc được ăn ngon ngủ yên để cai trị nước ta. Từ năm 939, Khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước. Bước vào thời kỳ phong kiến, pháp luật Việt Nam có nhiều chuyển biến qua từng thời kỳ 1. Thời kỳ nhà Đinh, nhà Ngô và nhà tiền Lê.
Thời kỳ này pháp luật được ghi lại rất ít. Pháp luật thời kỳ này được phản ảnh mờ nhạt trong Đại Việt sử ký toàn thư. Pháp luật thời kỳ này là “pháp luật thủa ban đầu”, nó còn sơ khai, đơn giản, sơ sài và phiến diện do Nhà nước lúc này phải tập chung vào xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Tuy nhiên theo sử sách để lại, việc quy định hành vi nào là tội phạm và hình phạt được áp dụng dưới thời nhà Đinh, Lê đều tùy ý của Vua hay của các viên quan đứng đầu khu vực.
Ngoài luật pháp của triều đình, luật tục vẫn giữ vai trò rất quan trọng và rộng khắp trong việc điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội. Đó là những lệ của các làng xã cổ truyền. Những lệ này có hiệu lực không gian rộng khắp là các làng xã và chủ yếu điều chỉnh các quan hệ trong các lĩnh vực ruộng đất, hôn nhân và gia đình.Người dân làng xã bấy giờ chủ yếu sống theo lệ, chứ ít khi bị pháp luật triều đình chi phối. Lệ làng vẫn bảo lưu những truyền thống về dòng họ và gia đình từ xa xưa.
Qua những tư liệu lịch sử rất hạn chế và ít ỏi thì hành vi loạn luân bị cấm đoán và lên án ở thời kỳ này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thời kỳ nhà Lý, nhà Trần và nhà Hồ. Qua các tài liệu ít ỏi về pháp luật thời kỳ này thì hành vi thông dâm với người trong họ được gọi là nội loạn được quy định là một trong nhóm tội “thập ác”.
Nhóm tội thập ác thời kỳ này gồm những tội sau: - Mưu phản - Mưu đại nghịch: Phá hủy cung, lăng, miếu - Mưu loạn, theo giặc - Ác nghịch: Đánh giết ông bà, cha mẹ - Bất đạo: Giết người vô tội - Đại bất kính: Bất hiếu: Chửi mắng ông bà, cha mẹ - Bất mục: Mưu giết người hay bán người thân - Bất nghĩa: Giết trưởng quan, thầy học - Nội loạn: Thông dâm với người trong họ Nhóm tội thập ác có nguồn gốc từ luật pháp Trung Quốc, được đặt ra từ thời nhà Tề (479- 502), được quy định rõ trong luật nhà Tùy, luật nhà Đường quy định đầy đủ và các đời sau giữ nguyên nhóm tội này. Thập ác là nhóm trọng tội trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Ở thời nhà Lý đời vua Lý Thái Tổ có ra Chiếu 11/1042 đề cập đến nhóm tội thập ác trong đó có nội loạn (thông dâm với người trong họ). Tuy nhiên thời kỳ này vẫn chưa có quy định rõ và giới hạn rõ ràng của hành vi thông dâm với người trong họ, mà nó được quy định rõ hơn trong các giai đoạn sau này.
Dưới thời đại nhà Trần cũng vẫn tồn tại song song hai hình thức pháp luật là luật thành văn do nhà nước ban hành và luật tục của làng xã người Việt. Luật pháp dưới thời nhà Trần thể hiện rõ quan điểm thân dân nhưng lại rất hà khắc với một số trọng tội. Năm 1230 Trần Thái Tông đã cho xét các luật lệ đời trước, sửa đổi san định thể lệ cho làm thành sách “Quốc triều thông chế”. Đến năm 1341 Triều đình đã cử Trương Hán Siêu cùng Nguyễn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Ngạn biên soạn Bộ Hình Thư nhưng đã bị mất hiện nay không còn.
Nhưng một số nội dung của pháp luật thời kỳ này cũng đã được phản ánh qua một số tài liệu lịch sử. Theo đó cho thấy pháp luật thời nhà Trần bảo vệ chế độ quân chủ và trật tự luân lý chịu ảnh hưởng lớn của trường phái Nho Giáo. Trong pháp luật thời kỳ này có quy định về các tội thập ác. An Nam chí lược cũng cho biết luật nhà Trần có quy định một số tội trong nhóm tội thập ác.
Như vậy pháp luật thời kỳ này đã xác lập, củng cố, bảo vệ chế độ phụ quyền gia trưởng; đề cao quyền của cha mẹ của người chồng, của các bậc bề trên trong gia đình. Mặc dù nội loạn là một trong những trọng tội nhưng chế độ nội tộc hôn trong hoàng tộc nhà Trần vẫn tồn tại. Điều này nhằm củng cố vương quyền, nhất là trong các thời kỳ đầu, nhà Trần đã thực hiện một nền chuyên chính dân chủ dòng họ. Các chức vụ chủ chốt trong chiều đình đều do họ hàng thân cận với nhà vua nắm giữ.
Để đề phòng nạn ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hôn nhân “đồng tộc”. Nhiều nhà vua, vương hầu tôn thất đã lấy người trong họ hàng khá gần gũi của mình như: Trần Thái Tông lấy chị dâu, Trần Thủ Độ lấy chị họ, Trần Quốc Tuấn lấy em họ. Điều này cũng cho thấy những lễ nghi khắt khe của Nho giáo ảnh hưởng lớn đến pháp luật thời này nhưng vì mục đích bảo vệ dòng họ, không muốn mất quyền vào tay dòng họ khác nên chế độ hôn nhân đồng tộc được duy trì ở thời nhà Trần. Thời kỳ nhà Lê sơ Các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược do những người trong tôn thất nhà Trần lãnh đạo đều bị thất bại.
Từ năm 1418, cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Đến năm 1428 nước ta đã đánh đuổi được quân xâm lược giành lại độc lập cho tổ quốc. Pháp luật thời kỳ này rất được chú trọng.