Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh •Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được hiểu là hành vi giết người trong tình trạng không tự chủ, không kiềm chế được hành vi phạm tội của mình(tức sự phản đối của người phạm tội) do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính người phạm tội hoặc người thân của người phạm tội. Là một trường hợp đặc biệt của tội giết người, vì vậy, để hiểu rõ khái niệm của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 125 BLHS) thì trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm “tội giết người”. Về khái niệm của tội giết người hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau.
Cụ thể: Hiện nay, các nước trên thế giới có hai xu hướng để đưa ra về tội giết người. Một là, định nghĩa tội giết người và không định nghĩa tội giết người. Các nước theo xu hướng định nghĩa về tội giết người trong BLHS của mình nhưng mỗi nước lại có các cách định nghĩa khác nhau. Luật Hình sự Liên bang Nga năm 1966, tại Điều 106, tội giết người được định nghĩa: “… là cố ý làm chết người khác” ; Trong BLHS Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác; Bộ luật Bang 7 California (Hoa Kỳ) năm 1998 tại Điều 187 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp pháp”.
Một số nước theo xu hướng thứ hai, không định nghĩa tội giết người, nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Trong đó có các định nghĩa: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác” , hoặc “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước đoạt quyền sống của người khác”. Hoặc “Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật”. Phân tích, đánh giá các định nghĩa trên cho thấy về nội dung, các định nghĩa không đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể hoặc có đề cập đến trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến độ tuổi.
Về sử dụng thuật ngữ giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính 8 mạng” của người khác là chưa phù hợp, chính xác theo ý nghĩa từ ngữ trong tiếng Việt. Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng “tước đoạt” là “tước và chiếm lấy sự sống của người khác” và “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng”. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 8, Khái niệm Tội phạm thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự thực hiện bởi người có năng lực trách hình sự thực hiện một cách cố ý, hoặc vô ý… xâm phạm tính mạng… của công dân…”. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa trên về tội giết người, tác giả đưa ra khái niệm về tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi theo quy định của pháp luật.
Theo bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân tối cao thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” [31, tr. Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng “tội giết người là hành vi trái pháp luật của người 8 đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác” [11, tr. Cả hai quan điểm đưa ra đều chưa hợp lý ở chỗ: Chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể “tội giết người” (quan điểm thứ nhất) hoặc chỉ đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi (quan điểm thứ hai), để khắc phục những hạn chế này, quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện” [6, tr. “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy định tại Điều 125, BLHS năm 2015 như sau: “1.
Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm” [21] Từ quy định tại Điều 125 BLHS cho thấy “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đòi hỏi người phạm tội khi thực hiện hành bi phạm tội phải ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi. Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh có thể là tình tiết làm giảm nhẹ một cách đáng kể mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Do vậy tình tiết này có thể được quy định là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ hoặc có thể là tình tiết định tội cho tội nhẹ hơn so với tội của trường hợp bình thường. BLHS 1985 quy định tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp định khung hình phạt giảm nhẹ của “tội giết 9 người” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Trong BLHS năm 1999 và BLHS 2015 các trường hợp này được tách ra thành các tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Theo Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định phần các tội phạm của BLHS năm 1985 thì “tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên”.
Cá biệt, có trường hợp, do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được, nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh. Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó. Các yếu tố cấu thành tội phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Theo quy định tại Điều 125 BLHS “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau: 10 1. Khách thể của tội phạm Trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bằng sự hỗ trợ của các quy phạm pháp luật, trong đó có các quy phạm pháp luật hình sự.
Trong Luật Hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và có thể bị tội phạm xâm hại là những quan hệ được xác định trong khái niệm tội phạm, đó là: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (khoản 1 Điều 8 BLHS 2015). Trong số những quan hệ xã hội đã được xác định này tính mạng con người là một trong những khách thể có tầm quan trọng đặc biệt. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người, đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác từ đó có thể xác định khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đó là quyền sống của con người. Đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ.
Mặt khách quan của tội phạm Cũng giống như các tội phạm khác khi được thực hiện đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ra bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được. “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cũng có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ở ngoài thế giới khách quan, đó là: - Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác; - Hậu quả chết người; - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác và hậu quả chết người.