Chương 1: , - Chương 2: Đánh giá mối quan hệ giữa chi phí và doanh thu đối với sản phẩm dịch vụ vận tải của CN công ty TNHH DV GN VT Quang Hưng - Chương 3: Một số biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận của CN công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận tải Quang Hưng Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 12 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Chƣơng 1 CHI PHÍ, DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN 1. Khái niệm và vai trò của chi phí “Chi phí là biểu hiện bằng tiền của việc sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh mà qua đó doanh nghiệp tạo ra được sản phẩm và thực hiện sản phẩm trên thị trường” (Phạm Công Đoàn, Nguyễn Cảnh Lịch, 2004, tr. Trong nền sản xuất hàng hóa có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với cạnh tranh. Muốn thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều phải quan tâm là giảm chi phí sản xuất vì giảm một đồng chi phí có nghĩa là tăng một đồng lợi nhuận (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi).
Chi phí doanh nghiệp là đòn bẩy, là động lực kinh tế quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Chi phí là điều kiện cần của sản xuất bất cứ nơi nào diễn ra hoạt động sản xuất thì ở nơi đó sẽ phát sinh chi phí. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, trong quá trình ra quyết định họ phải đánh giá chi phí của các phương án khác nhau để lựa chọn phương án mang lại hiệu quả sử dụng chi phí cao nhất. Như vậy chi phí không chỉ ảnh hưởng tới sản lượng, giá bán mà còn tác động đến việc ra quyết định của doanh nghiệp.
Phân loại chi phí Tùy theo mục đích nghiên cứu chúng ta có thể phân loại chi phí của doanh nghiệp thành rất nhiều loại khác nhau theo các tiêu thức khác nhau. Dưới đây là một số loại chi phí cơ bản phục vụ cho quá trình quản lý chi phí doanh nghiệp. Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 13 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng 1. Theo tính chất biến đổi của chi phí so với mức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp Chi phí cố định (TFC) Theo Jones (2004) chi phí cố định là những chi phí mua vốn cần thiết trước khi bắt đầu sản xuất.
Các chi phí này không thay đổi theo sản lượng và nói chung có thể bao gồm bất kỳ chi phí nào mà phải được đáp ứng trước khi bắt đầu sản xuất. Đây là loại chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho dù sản lượng ít hay nhiều thậm chí là không hoạt động. Khi sản lượng tăng thì chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm giảm và ngược lại. Chi phí biến đổi (TVC) Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi theo sản lượng nó bao gồm các khoản chi tiền công, tiền lương cho lao động và chi phí nguyên vật liệu để sản xuất sản lượng đầu ra.
Nói chung, chúng bao gồm tất cả chi phí mà thay đổi theo sản lượng. Chi phí và sản lượng có mối quan hệ tỷ lệ thuận tức là khi sản lượng tăng thì tổng chi phí biến đổi cũng tăng và ngược lại ( Jones, 2004, tr. Theo tiêu thức tiếp cận chi phí Chi phí kế toán Chi phí kế toán là những chi phí bằng tiền mà doanh nghiệp đã thực sự bỏ ra để sản xuất các hàng hóa dịch vụ trong một thời kỳ được thể hiện trong sổ sách không tính đến các chi phí cơ hội của các yếu tố đầu vào đã sử dụng trong quá trình sản xuất (Vũ Kim Dũng, 2006, tr. Chi phí kinh tế Chi phí kinh tế là toàn bộ các khoản doanh nghiệp phải bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào bao gồm cả chi phí hiện (được chi trả) và chi phí ẩn (không chi trả) (Vũ Kim Dũng, 2006, tr.
Chi phí hiện là các khoản chi phí được phản ánh trong sổ sách kế toán còn chi phí ẩn ở đây chính là phần chênh lệch giữa chi phí kế toán với chi phí của Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 14 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng phương án sản xuất kinh doanh khi các nguồn lực được sử dụng một cách tối ưu nhất. Do đó thông thường chi phí kinh tế thường lớn hơn chi phí kế toán. Các chỉ tiêu phân tích chi phí trong doanh nghiệp 1. Các chi phí trong ngắn hạn Chi phí ngắn hạn tức là những chi phí của thời kỳ mà trong đó số lượng (và chất lượng) của một vài đầu vào không thay đổi.
Ví dụ như quy mô nhà máy, diện tích sản xuất…(Vũ Kim Dũng, 2006, tr. Tổng chi phí (TC) Theo Pindyck và.Rubinfed (1995) tổng chi phí là tổng của các loại chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Tổng chi phí bằng tổng của chi phí cố định và chi phí biến đổi. Công thức TC = TFC + TVC Trong hình 2.1, tổng chi phí cố định được hiển thị như một đường nằm ngang bởi vì nó không thay đổi theo sản lượng, trong khi các đường tổng chi phí và chi phí biến đổi là những đường cong có xu hướng đi lên khi sản lượng tăng.
Đường tổng chi phí luôn nằm trên và cách đường chi phí biến đổi một khoảng cách không đổi đúng bằng mức chi phí cố định. Hình dạng của chúng sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa đầu vào sử dụng, chi phí phát sinh và sản lượng. Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 15 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng C TC TVC TFC TFC C Q O Hình 1.1 Đƣờng tổng chi phí, tổng chi phí cố định và chi phí biến đổi Các chỉ tiêu chi phí trung bình Chi phí cố định bình quân (AFC) Chi phí cố định bình quân trong ngắn hạn là mức chi phí cố định bình quân tính trên mỗi đơn vị sản lượng đầu ra (Webster, 2003, tr. TFC AFC = Q Do tổng chi phí cố định không đổi nên chi phí cố định bình quân phụ thuộc vào sản lượng.
Khi sản lượng tăng lên thì AFC giảm xuống và ngược lại. Vì vậy đường AFC có độ dốc âm. Chi phí biến đổi bình quân (AVC) Là mức chi phí biến đổi tính bình quân cho một đơn vị sản lượng (Webster, 2003, tr. TVC AVC = Q Tổng chi phí bình quân ngắn hạn (AC) Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 16 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Chi phí bình quân ngắn hạn là tổng chi phí sản xuất tính trên mỗi đơn vị sản phẩm (Webster, 2003, tr.
TC AC = Q Hoặc AC = AFC + AVC Đường AC cũng có dạng hình chữ U cũng tuân theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần. Chi phí cận biên (MC) Chi phí cận biên là mức chi phí tăng thêm do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm (Jones, 2004, tr. TC VC ’ MC = Q = Q hoặc MC(Q) =TC (Q) TC : Sự thay đổi của tổng chi phí Q : Sự thay đổi sản lượng VC : Sự thay đổi chi phí biến đổi Hình 1.2 Đƣờng chi phí bình quân, chi phí biến đổi bình quân và chi phí cận biên Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 17 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Vì chi phí cố định không thay đổi theo sản lượng, đường cong chi phí cận biên là thặng dư trong tổng chi phí biến đổi, đó là kết quả của việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. Đường chi phí cận biên ban đầu dốc xuống và sau đó đi lên, đi qua điểm cực tiểu của đường chi phí trung bình và đường chi phí biến đổi trung bình.
Đường chi phí cận biên cũng có dạng hình chữ U. Các chi phí trong dài hạn Tổng chi phí dài hạn (LTC) Tổng chi phí dài hạn bao gồm toàn bộ những phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh các hàng hóa hay dịch vụ trong điều kiện các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đều có thể điều chỉnh (Pindyck, Runbinfed, 1995, tr. Chi phí trung bình dài hạn (LAC) Chi phí trung bình dài hạn là mức chi phí tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm khi hãng có khả năng thay đổi các yếu tố đầu vào (Pindyck, Runbinfed, 1995, tr. LTC LAC = Q Chi phí cận biên dài hạn (LMC) Chi phí cận biên dài hạn là mức chi phí tăng thêm do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm khi cả 2 yếu tố đầu vào đều thay đổi (Pindyck, Runbinfed, 1995, tr.
LTC ’ LMC = Q = LTC (Q) Giống như trong ngắn hạn, đường LMC cũng có dạng hình chữ U tuân theo quy luật hiệu suất cận biên giảm dần và đi qua điểm cực tiểu của đường LAC. Sinh viên: Đoàn Thị Thu Hiền - Lớp QT1001N 18 n tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng 1. Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí Giá cả các yếu tố đầu vào Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều chịu sự điều tiết của quy luật cung cầu, giá cả, cạnh tranh. Với cơ chế này thì giá cả thị trường sẽ do cung cầu trên thị trường quyết định và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi giá cả các yếu tố đầu vào.
Giá cả các yếu tố đầu vào có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng chi phí vì: TC = w.K Trong đó w là giá thuê lao động, r là giá thuê vốn, L là số lao động, K là lượng vốn Khối lượng hàng hóa được sản xuất ra (Q) Vì khối lượng hàng hóa được sản xuất ra có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng chi phí biến đổi nên nó cũng tỷ lệ thuận với tổng chi phí của doanh nghiệp. Khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng thì tổng chi phí sẽ tăng và ngược lại. Do đó khối lượng hàng hóa sản xuất ra chính là nhân tố chủ quan nói lên quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Trình độ quản lý Nếu một nhà quản lý có năng lực sẽ biết ứng dụng được những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong các hoạt động, biết quản lý và phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả, biết cách đưa ra các chiến lược kinh doanh chính xác và kịp thời thì sẽ làm giảm được các chi phí của doanh nghiệp.