Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, các vụ án xâm phạm sức khỏe con người tại Việt Nam chiếm tỷ lệ dao động từ 15% đến 20% tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm được thụ lý. Trong bức tranh tội phạm học đó, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một dạng tội phạm đặc thù, mang tính xung đột tâm lý gay gắt giữa người phạm tội và nạn nhân. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những vướng mắc, lúng túng của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp khi áp dụng Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Thực tiễn cho thấy nhiều vụ án có sự nhầm lẫn giữa tình trạng bị kích động mạnh với tình trạng bị kích động thông thường, hoặc nhầm lẫn với phòng vệ chính đáng.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, xây dựng hệ thống khái niệm chuẩn xác về cấu thành tội phạm, đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử trong phạm vi toàn quốc giai đoạn 2010 - 2014, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật thực định và giải pháp nâng cao kỹ năng xét xử. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với mục tiêu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, hướng tới nâng tỷ lệ định tội danh chính xác tại các phiên tòa sơ thẩm đạt trên 98%, giảm tỷ lệ các bản án bị cấp phúc thẩm tuyên hủy hoặc sửa do xác định sai tội danh xuống dưới mức 1.5%. Luận văn góp phần bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân được ghi nhận tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính nghiêm minh nhưng vẫn thể hiện rõ tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít, kết hợp với hai khung lý thuyết cốt lõi trong khoa học pháp lý: Thuyết cấu thành tội phạm bốn yếu tố trong khoa học luật hình sự Việt Nam và Lý thuyết tâm lý học tư pháp về trạng thái cảm xúc bùng phát. Hệ thống lý thuyết này định hình mô hình phân tích cấu thành tội phạm Điều 105 Bộ luật Hình sự thông qua bốn yếu tố tương tác: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.

Nghiên cứu tập trung làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Tình trạng tâm lý mà người thực hiện hành vi không còn nhận thức đầy đủ nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức, trong đó năng lực kiềm chế và điều khiển hành vi bị hạn chế ở mức độ cao.
  • Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân: Xử sự vi phạm pháp luật hình sự, hành chính hoặc các quy chuẩn đạo đức xã hội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của họ.
  • Lỗi cố ý đột xuất: Dạng lỗi hình thành tức thì ngay khi xảy ra kích động tâm lý dữ dội mà không có sự chuẩn bị hay toan tính từ trước.
  • Khách thể bị xâm phạm: Quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe và thân thể của con người.
  • Người thân thích: Nhóm chủ thể có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, gắn bó tình cảm mật thiết với người phạm tội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống báo cáo tổng kết xét xử thường niên của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn 2010 - 2014, cùng các văn bản quy phạm pháp luật xuyên suốt lịch sử từ năm 1945 đến năm 2015.

Phương pháp phân tích bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các yếu tố cấu thành tội phạm và khái quát hóa bản chất pháp lý.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu lịch sử: So sánh quy định tại Sắc luật số 03/SL năm 1976, Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 và Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1999 để thấy rõ tiến trình phân hóa trách nhiệm hình sự.
  • Phương pháp thống kê xã hội học pháp lý: Xử lý các chỉ số định lượng về số lượng vụ án, tỷ lệ giải quyết và cơ cấu khung hình phạt.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập với hơn 120 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm điển hình trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo địa bàn đô thị và nông thôn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất. Việc lựa chọn phương pháp này giúp đối chiếu trực tiếp giữa các quy phạm pháp luật lý thuyết với thực tiễn áp dụng thực tế, nhận diện chính xác các nguyên nhân dẫn đến sai sót nghiệp vụ trong thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử giai đoạn 2010 - 2014 đã đưa ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, số lượng các vụ án xét xử về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chiếm tỷ lệ ổn định khoảng 2.8% đến 3.5% tổng số các vụ án xâm phạm sức khỏe con người, với tỷ lệ giải quyết thành công của ngành Tòa án đạt mức trung bình 92.5% mỗi năm.

Thứ hai, nguồn gốc phát sinh tội phạm có tới 68.4% bắt nguồn từ những xung đột gia đình âm ỉ, kéo dài (như bạo lực gia đình, ngoại tình) hoặc hành vi bạo lực thô bạo tức thì của nạn nhân; trong đó các vụ án thuộc khoản 1 Điều 105 với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% chiếm ưu thế tuyệt đối với 74.2% tổng số vụ xét xử.

Thứ ba, tỷ lệ các trường hợp gây thương tích nặng từ 61% trở lên, dẫn đến chết người hoặc phạm tội đối với nhiều người thuộc khoản 2 Điều 105 chiếm 25.8%, cho thấy tính chất nguy hiểm của hậu quả thực tế dù người phạm tội được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do hoàn cảnh tinh thần đặc biệt.

Thứ tư, có khoảng 18.5% các vụ án ban đầu bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy tố nhầm theo Điều 104 (tội cố ý gây thương tích thông thường áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm đ khoản 1 Điều 46) hoặc nhầm lẫn với tội danh vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 106, đòi hỏi Tòa án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc chuyển đổi tội danh tại phiên tòa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thiếu các hướng dẫn liên tịch định lượng cụ thể thế nào là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng. Nhiều cơ quan tố tụng chỉ nhìn nhận hành vi xảy ra ngay trước mắt mà bỏ qua chuỗi hành vi sai trái có tính chất lặp đi lặp lại của nạn nhân làm ức chế tâm lý bị cáo trong suốt thời gian dài. Khi so sánh với các nghiên cứu về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, kết quả của luận văn khẳng định sự tương đồng cao về cơ chế tâm lý bùng phát tức thời, trong đó lỗi cố ý đột xuất xuất hiện trong hơn 90% các tình huống phạm tội.

Dữ liệu của luận văn được cấu trúc hóa rõ nét thông qua Bảng 3.1 thể hiện tỷ trọng vụ án Điều 105 trên tổng số án hình sự toàn quốc và Bảng 3.2 phản ánh tỷ lệ giải quyết án tăng trưởng từ 89.2% năm 2010 lên 94.6% năm 2014. Bức tranh này còn có thể được minh họa trực quan bằng biểu đồ hình cột so sánh biến thiên tỷ lệ thương tật và biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu các nguyên nhân xã hội dẫn tới hành vi phạm tội, giúp các cơ quan tư pháp nhận diện chính xác bản chất từng vụ việc.

Đề xuất và khuyến nghị

Để khắc phục triệt để các bất cập trong công tác lập pháp và thực tiễn xét xử, luận văn đưa ra 4 giải pháp mang tính chiến lược:

Thứ nhất, ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết cần định nghĩa tường minh tiêu chí xác định hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, làm rõ ranh giới giữa kích động mạnh và kích động thông thường, hướng tới mục tiêu giảm 50% số vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung do sai lệch tội danh trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự. Cần luật hóa và mở rộng phạm vi khái niệm người thân thích của người phạm tội bao gồm cha mẹ nuôi, con nuôi, người có mối quan hệ nuôi dưỡng, gắn bó tình cảm thực tế. Cơ quan chủ trì thực hiện là Quốc hội và Bộ Tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ pháp luật hình sự đạt 100% tại các cấp xét xử trước năm 2017.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng đánh giá chứng cứ cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên. Học viện Tòa án và Trường Đại học Kiểm sát cần tổ chức tối thiểu 12 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về tâm lý học tư pháp và kỹ năng giám định thương tật y khoa, phấn đấu nâng tỷ lệ định tội danh chuẩn xác ngay từ khâu khởi tố lên trên 95% trước năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và củng cố thiết chế hòa giải tại cơ sở. Bộ Tư pháp phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp triển khai mạng lưới tư vấn tâm lý, hòa giải mâu thuẫn cộng đồng tại 100% xã, phường, thị trấn nhằm kéo giảm 30% các vụ việc bạo lực tự phát do ức chế tâm lý kéo dài trong giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Nhóm thứ nhất là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Luận văn cung cấp bộ tiêu chí phân định rõ ràng giữa Điều 105 với Điều 104 và Điều 106 Bộ luật Hình sự, phục vụ trực tiếp cho quá trình định tội danh chuẩn xác, hạn chế tối đa nguy cơ oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm trong quá trình thụ lý án.

Nhóm thứ hai là Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý. Đây là nguồn tư liệu hữu ích hỗ trợ xây dựng hệ thống luận cứ bào chữa sắc bén, giúp chứng minh trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và lỗi nghiêm trọng của phía nạn nhân để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về lý luận cấu thành tội phạm, phương pháp nghiên cứu hồ sơ án và kỹ thuật lập pháp hình sự.

Nhóm thứ tư là các cơ quan lập pháp và cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách pháp luật. Nguồn số liệu thực tiễn 5 năm cùng các phân tích lịch sử pháp điển hóa trong luận văn là luận cứ thực tế phục vụ hiệu quả cho công tác sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khác với tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như thế nào? Theo Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 1999, người không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần sẽ mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi. Ngược lại, người phạm tội theo Điều 105 chỉ bị hạn chế nhận thức và năng lực tự chủ ở mức độ cao trong chốc lát, khả năng nhận thức chưa mất hẳn nên họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt giảm nhẹ đặc biệt.

Nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng nhưng tỷ lệ thương tích dưới 31% thì người gây thương tích có bị xử lý hình sự không? Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự, tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên là dấu hiệu định tội bắt buộc trong cấu thành tội phạm vật chất. Nếu thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân dưới mức 31%, hành vi của người thực hiện không cấu thành tội phạm theo Điều 105 mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bồi thường dân sự.

Khái niệm người thân thích của người phạm tội được xác định như thế nào trong thực tiễn xét xử? Thực tiễn xét xử công nhận người thân thích gồm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống trực hệ hoặc bàng hệ như vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em ruột, ông bà và các cháu. Ngoài ra, Tòa án cũng mở rộng công nhận những trường hợp có quan hệ nuôi dưỡng, gắn bó tình cảm mật thiết lâu năm như mẹ con nuôi hay anh em kết nghĩa sống chung trong gia đình.

Làm thế nào để phân biệt tội danh theo Điều 105 với việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự? Điểm khác biệt căn bản nằm ở cường độ kích động tâm lý và mức độ trái pháp luật của nạn nhân. Điều 105 đòi hỏi nạn nhân phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng làm tinh thần người phạm tội bị kích động mạnh. Nếu hành vi của nạn nhân chỉ dừng ở mức trái pháp luật thông thường hoặc vi phạm đạo đức, người phạm tội chỉ bị kích động nhưng chưa đến mức mạnh thì sẽ bị xử lý theo Điều 104 kết hợp tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46.

Chuỗi hành vi vi phạm kéo dài của nạn nhân được đánh giá ra sao để xác định trạng thái kích động mạnh? Trong thực tế, nhiều trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm trọng không chỉ là một hành động đơn lẻ tức thì mà là một chuỗi hành vi bạo lực, xúc phạm danh dự lặp đi lặp lại trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khi đó, hành vi cuối cùng của nạn nhân đóng vai trò như giọt nước tràn ly, đẩy ức chế dồn nén của người phạm tội lên đỉnh điểm, tạo thành trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hợp pháp theo luật định.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện các quan điểm khoa học, xây dựng thành công định nghĩa chuẩn xác về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa Điều 105 với các tội danh liền kề như Điều 104, Điều 106 và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, giải quyết căn bản các xung đột lý luận.
  • Khái quát bức tranh thực tiễn xét xử 5 năm giai đoạn 2010 - 2014 trên phạm vi cả nước với tỷ lệ giải quyết án trung bình đạt 92.5%, đồng thời chỉ ra 18.5% các vụ việc có sự nhầm lẫn về định tội danh ở cấp sơ thẩm.
  • Nhận diện đầy đủ 4 nhóm nguyên nhân xã hội và tư pháp dẫn đến vướng mắc khi áp dụng pháp luật, đặc biệt là thiếu hướng dẫn liên tịch định lượng về hành vi trái pháp luật nghiêm trọng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật thực định, ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán đến đào tạo nghiệp vụ và tăng cường hòa giải cơ sở giai đoạn 2016 - 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống ở cấp độ thạc sĩ về Điều 105, tạo lập nền tảng khoa học vững chắc cho các nhà nghiên cứu và cơ quan tiến hành tố tụng. Về lộ trình tiếp theo, các đề xuất lập pháp cần được tích hợp vào quá trình hoàn thiện Bộ luật Hình sự năm 2015 và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành. Các nhà khoa học pháp lý, cán bộ tư pháp và học viên chuyên ngành cần tiếp tục khai thác nguồn tư liệu này, đẩy mạnh nghiên cứu thực tiễn nhằm không ngừng nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ toàn diện quyền con người tại Việt Nam.