Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH NIÊN 1. Khái niệm, chủ thể, đối tượng về tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên và vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 1.1 Khái niệm về thanh niên, pháp luật về thanh niên 1. Khái niệm về thanh niên Khái niệm về TN có sự biến đổi theo quá trình phát triển xã hội - lịch sử. Xã hội loài người càng phát triển thì khái niệm TN càng phong phú và hoàn thiện.
Để có quan niệm về TN một cách tương đối toàn diện, có thể rút ra một số nội dung tổng quát về quan niệm TN như sau: Thời kỳ nào cũng vậy, TN luôn được xem là rường cột của đất nước, tương lai của dân tộc và hạnh phúc của gia đình. TN là người có thể lực cường tráng, năng động sáng tạo, có ý chí kiên cường trong hoạt động lao động xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “TN là người còn trẻ đang ở độ tuổi trưởng thành. TN thường được xem là một nhóm xã hội lứa tuổi hoặc một lát cắt chu kỳ sống của con người, có sự khác nhau với các nhóm đối tượng lứa tuổi khác vì có một số đặc điểm tâm lý do lứa tuổi.
[43, tr 488 – 489] TN còn được hiểu là lực lượng lao động dự trữ, một tài nguyên lớn của quốc gia, dân tộc. Do đó, có thể xem TN là động lực của sự nghiệp CNH, HĐH. Liên hợp quốc định nghĩa TN là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác. Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi.
Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi TN được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho TN là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. 9 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước độc lập, thống nhất, Bác Hồ dạy: "TN là chủ tương lai của nước nhà". Bác ví tuổi TN là mùa xuân của xã hội "Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội".
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bác luôn đặt niềm tin vào sức mạnh của TN: "Với một thế hệ TN hăng hái kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc". Người còn chỉ rõ, TN là người kết nối quá khứ với tương lai: "TN là người tiếp sức mạnh cho thế hệ TN già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ TN tương lai". Với TN, Bác dạy: "Nhiệm vụ của TN không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho lợi ích nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào".
Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (đã được Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X thông qua ngày 12/12/2012), “ TN Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn”[42]. Theo Luật TN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa XI, có hiệu lực ngày 01/7/2006 nêu: “TN quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”[37]. TN là giai đoạn sung sức nhất của mỗi con người về thể chất, có sự phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, có nhiều ước mơ, hoài bão. Đây là giai đoạn định hướng những giá trị cuộc sống của mỗi con người để hình thành nhân cách.
TN nước ta là một tầng lớp xã hội rộng lớn, luôn có những đóng quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước. Theo Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung Ương Khóa X, TN là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. TN là độ tuổi sung 10 sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Song, do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên TN cần được sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội.
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu TN là một nhóm người trong xã hội - nhân khẩu đặc thù, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 16 đến 30 tuổi, được gắn với mọi giai cấp, dân tộc, mọi tầng lớp xã hội và tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng quốc gia, từng dân tộc. Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ về thể chất, tinh thần, phẩm chất, nhân cách của một công dân, hình thành thế giới quan và lý tưởng đạo đức cuộc sống. Khái niệm pháp luật về thanh niên Theo GS. Phạm Hồng Thái và PGS.
Đinh Văn Mậu, hệ thống pháp luật là “Tổng thể các quy phạm pháp luật được quy định một cách khách quan bởi các điều kiện kinh tế-xã hội, được phân chia thành các bộ phận cấu thành khác nhau (các ngành luật, phân ngành luật, chế định pháp luật), phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau”. [36] Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật. Như vậy, pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TN.Từ đó, có thể hiểu pháp luật về TN là các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh hoạt động, những hành vi của người trong độ tuổi TN vì mục tiêu giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện và môi trường cho TN phát triển, trưởng thành, phát huy lực lượng TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc CNXH (Chủ nghĩa Xã hội). Với khái niệm như vậy,nội hàm của pháp luật về TN bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về TN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Như vậy pháp luật về TN sẽ được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật cóthứ bậc khác nhau do nhiều chủ thể ban hành. Bên cạnh việc quy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật TN 2005 và 11 các nghị định, thông tư, quyết định về TN, pháp luật về TN còn chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Lao động điều chỉnh về tiền lương, thời gian làm việc, Luật Hình sự quy định về xử lý hình sự khi TN vi phạm pháp luật hình sự, Luật Dân sự…. Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh. Pháp luật về TN là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành.
Đặc điểm này của pháp luật về TN đòi hỏi khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về TN cần phải phân định rành mạch thẩm quyền, phạm vi của từng chủ thể khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời phải tránh mâu thuẫn, đảm bảo tính thống nhất. Pháp luật về TN là những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh, phối hợp thống nhất triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTTNcủa các tổ chức, lực lượng trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu của Đảng về công tác giáo dục, bồi dưỡng và phát huy lực lượng TN. Pháp luật về TN bao gồm các nội dung: Một là: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển TN và CTTN. Hai là: Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm CTTN.
Ba là: Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về TN và CTTN. Bốn là: Hoạt động hợp tác quốc tế về CTTN. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên Để pháp luật về TN đi được vào cuộc sống bằng những hành vi hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải tổ chức đưa pháp luật vào thực thi trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm tính pháp quyền, tuân thủ pháp luật của các công chức trong mọi hoạt động của mình. Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là việc tổ chức, cá nhân thực hiện quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách về TN.
Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là những hoạt động của chủ thể thực hiện 12 tuyên truyền, giáo dục , phổ biến, thực hành, giám sát, kiểm tra các điểu luật liên quan đến TN. Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm của TN đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của TN và các cá nhân, tổ chức có liên quan. Thực hiện pháp luật TN được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: không thực hiện hành vi trái pháp luật TN và thực hiện hành vi hợp pháp, tuân thủ pháp luật TN, pháp luật TN trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật TN phải có nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp.Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về TN được triển khai trong thực tiễn. Chủ thể, đối tượng của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 1.