Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ 1. Quan niệm về phòng, chống tham nhũng và pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1. Quan niệm về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Tham nhũng Tham nhũng là hiện tượng xã hội có mặt ở mọi quốc gia trên thế giới có thể làm băng hoại nền tảng mọi chế độ trên các phương diện kinh tế, chính trị, đạo lý và pháp lý.
Tham nhũng là hiện tượng gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước, có ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu và nước nghèo, nước phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển với nhiều hình thức biểu hiện. Tham nhũng hiện nay không chỉ trong phạm vi quyền lực công mà còn mở rộng đến các khu vực tư. Tham nhũng và chống tham nhũng luôn là “cuộc chiến” đầy gay go. Vì thế, thế giới đã giành riêng ngày 9/12 hàng năm là Ngày Quốc tế chống tham nhũng.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấy của”. Đây là một khái niệm tương đối đơn giản về một vấn đề hoàn toàn không đơn giản. Quan niệm này phát từ chính bản thân cụm từ “tham nhũng” gồm hai yếu tố: tham và nhũng. Tham là hám lợi, tư lợi, vụ lợi.
Nhũng là lợi dụng quyền hành, chức trách được giao để nhiễu sách, nhũng nhiễu nhằm thoả mãn lòng tham [27, tr. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Theo đó, “Người có chức vụ, quyền hạn” được hiểu là người do bổ 8 nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó [46]. Như vậy, khái niệm tham nhũng theo pháp luật hiện hành đã được mở rộng hơn, không chỉ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước mà còn gồm cả hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức xã hội, doanh nghiệp ngoài nhà nước, những người không phải là cán bộ, công chức.
Hay nói cách khác, hành vi tham nhũng là những hành vi không chỉ của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức thuộc khu vực nhà nước mà còn là hành vi của người có nhiệm vụ, quyền hạn trong cả các tổ chức thuộc khu vực ngoài nhà nước. Quan niệm về phòng, chống tham nhũng Phòng, chống tham nhũng bao gồm hai hoạt động là "Phòng ngừa tham nhũng" và "Phát hiện, xử lý tham nhũng" nhằm thực hiện mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng tham nhũng, trong đó: Phòng ngừa tham nhũng là biện pháp để đề phòng, ngăn ngừa sự phát sinh các hành vi tham nhũng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi quốc gia có cách thức, biện pháp phòng ngừa khác nhau. Trong đó có biện pháp được xem là quan trọng và được nhiều quốc gia tổ chức thực hiện, đó là tăng cường tính công khai, minh bạch đối với hoạt động của Nhà nước; minh bạch tài sản, thu nhập của công chức; kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ tin học vào quản lý; thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức; thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; tăng cường công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội trên các lĩnh 9 vực.
Việc thực hiện các biện pháp này là cần thiết để đề phòng, ngăn ngừa các hành vi tham nhũng nẩy sinh trên thực tế. Song song với phòng ngừa tham nhũng là phát hiện và xử lý tham nhũng. Đây là biện pháp quan trọng trong công tác đấu tranh PCTN, thể hiện thái độ phản ứng của Nhà nước đối với hành vi tham nhũng. Phát hiện tham nhũng là quá trình tìm ra các hành vi tham nhũng được thực hiện bởi các chủ thể cụ thể.
Do chủ thể tham nhũng thường là những người có chức vụ, quyền hạn và một số trường hợp được ngụy trang bằng các thủ đoạn hết sức tinh vi, thậm chí còn được các công cụ quyền lực bảo vệ, che chắn, do đó việc phát hiện tham nhũng để xử lý là rất khó khăn. Để phát hiện tham nhũng, các quốc gia trên thế giới áp dụng nhiều cách thức, nhưng chủ yếu là việc thông quan cơ chế kiểm soát quyền lực của các nhánh quyền lực, trong đó, có những công cụ phát hiện của Nhà nước nhưng cũng có những công cụ từ xã hội. Công cụ để phát hiện tham nhũng được nhiều quốc gia áp dụng thường là, thông qua hoạt động của các cơ quan chức năng, chuyên trách về phòng, chống tham nhũng như: Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát. Tham gia phát hiện tham nhũng còn có vai trò hết sức quan trọng của các cơ quan thông tấn, báo chí và việc tố cáo hành vi tham nhũng của công dân.
Xử lý hành vi tham nhũng là áp dụng các biện pháp trừng phạt của Nhà nước đối với người có hành vi tham nhũng. Việc xử lý tham nhũng không chỉ có mục đích trừng trị người có hành vi tham nhũng mà còn có mục đích răn đe, giáo dục những người khác để họ kiềm chế không thực hiện hành vi tham nhũng. Việc kết luận và xử lý hành vi tham nhũng là trách nhiệm của các cơ quan chức năng được pháp luật quy định, theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ. Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi tham nhũng mà các quốc gia quy định hình thức, biện pháp xử lý người có hành vi tham nhũng khác nhau.
10 Thông thường các nhà nước thường áp dụng các biện pháp như: Xử lý kỷ luật, hành chính, kinh tế hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi tham nhũng, tùy theo mức độ vi phạm. Như vậy, có thể hiểu: Phòng, chống tham nhũng là việc thực hiện các phương thức, biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền để ngăn ngừa, hạn chế, đấu tranh chống chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm Để bảo đảm việc phòng, chống tham nhũng có hiệu quả và tuân theo một trật tự nhất định, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng.
Nhiệm vụ trọng tâm của pháp luật phòng, chống tham nhũng là xây dựng một cơ chế phòng ngừa tham nhũng toàn diện và sâu rộng, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội công khai, minh bạch để “không thể tham nhũng”; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng để “không dám tham nhũng”. Pháp luật xác định rõ hành vi nào là tham nhũng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, trình tự, thủ tục xử lý tham nhũng, đồng thời, quy định trách nhiệm và cơ chế để phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng. Thời gian qua, pháp luật phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã từng bước giúp tạo ra môi trường thể chế ngày càng công khai, minh bạch; từng bước tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác phòng, chống tham nhũng; cơ chế kiểm soát đối với cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ cũng ngày càng được cải thiện; việc xử lý người có hành vi tham nhũng và 11 tài sản tham nhũng cũng được chú trọng và nâng cao hiệu quả; bộ máy cơ quan phòng, chống tham nhũng bước đầu được củng cố, kiện toàn. Từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng.
Đặc điểm của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Một là, pháp luật về phòng, chống tham nhũng điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng bằng các phương pháp, cách thức điều chỉnh khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ của các chủ thể có hành vi tham nhũng; đồng thời, quy định vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng. Hai là, các phương pháp điều chỉnh của pháp luật về phòng, chống tham nhũng mang tính quyền uy, phục tùng, buộc mọi chủ thể pháp luật phải tuân theo nhằm hạn chế, ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Ba là, nội dung của pháp luật về phòng, chống tham nhũng gồm các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng; các quy định về hợp tác quốc tế và phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng; xác định rõ hành vi nào là hành vi tham nhũng và những biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng đối với các chủ thể có hành vi đó; đồng thời quy định các biện pháp bảo đảm nhằm phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Quan niệm về tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ 1.
Vị trí, vai trò của Thanh tra chính phủ trong phòng, chống tham nhũng 1. Vị trí của Thanh tra Chính phủ trong phòng, chống tham nhũng Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng (PCTN) trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và PCTN theo quy định của pháp luật. Vị trí của Thanh tra Chính phủ trong PCTN được thể hiện thông qua tổ chức và hoạt động PCTN của Thanh tra Chính phủ.