CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 1. Hệ thống thông tin a. Khái niệm thông tin Thông tin được chúng ta tiếp nhận dưới nhiều hình thức khác nhau thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thông tin là truyền tin cho nhau để biết”. Thông tin có thể được tiếp nhận qua việc thu thập và xử lý dữ liệu, trao đổi, phân tích, truyền thụ, cảm nhận… giúp tăng thêm sự nhận thức và hiểu biết của con người về một sự kiện, một hiện tượng nào đó. Như vậy thông tin được xem xét trên 3 khía cạnh: Thứ nhất, đó chính là nội dung được truyền tải; Thứ hai là phương pháp truyền tải; Thứ ba là đích đến của thông tin. Khái niệm hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp gồm con người, các quy trình và các thiết bị công nghệ thông tin (phần cứng, phần mềm, dữ liệu…) tương tác với nhau để thực hiện hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin hữu ích cho người sử dụng có liên quan trong một tập hợp ràng buộc gọi là môi trường.
[8] Dữ liệu là những dữ kiện, con số, hình ảnh. chưa qua xử lý để mang lại ý nghĩa cụ thể phục vụ cho nhu cầu của con người nhất định. Thông tin là dữ liệu đã được xử lý, mang ý nghĩa phù hợp với nhu cầu cụ thể của người sử dụng, trong thực tế khái niệm dữ liệu và thông tin chỉ mang tính tương đối. Thông tin chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một hệ thống quản lý nhất định.
Luan van 9 Quá trình xử lý và cung cấp thông tin tạo ra dòng thông tin, hướng của dòng thông tin thường được hiểu là từ nơi phát đến nơi nhận. Mỗi thông tin đều có vật mang tin và nội dung tin. Nội dung tin bao giờ cũng phải chứa đựng trên một vật mang tin nào đó. Trên một vật mang tin có thể có nhiều nội dung tin hay có thể thay đổi vật mang tin trong quá trình lưu chuyển của thông tin.
Các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin Mọi hệ thống thông tin đều có 4 bộ phận : bộ phận đưa dữ liệu vào, bộ phận xử lý, kho dữ liệu, bộ phận đưa dữ liệu ra. Hệ thống thông tin kế toán a. Khái niệm hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống thông tin quản lý trong doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, các phương tiện, các phương pháp kế toán được tổ chức khoa học nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng kỳ nhất định. Hai chức năng của hệ thống thông tin kế toán là thông tin và kiểm tra.
[8] - Mục tiêu của hệ thống : cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về tình hình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm những thông tin về tài sản, nguồn vốn, quá trình kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ trong doanh nghiệp. - Dữ liệu đầu vào: là các dữ liệu từ các hoạt động kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp như mua vật tư hàng hóa, bán hàng, thu tiền, các chi phí phát sinh, trả lương cho công nhân… - Quy trình xử lý: là một quy trình hoàn chỉnh bao gồm các giai đoạn cụ thể từ việc thu thập thông tin về các dữ liệu kế toán, đến việc xủ lý, phân tích tổng hợp các dữ liệu này để lập các báo cáo kế toán bằng hệ thống các Luan van 10 phương pháp kế toán là phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản và ghi kép, phương pháp đo lường đối tượng kế toán và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán. Để thực hiện các quy trình trên đây đòi hỏi phải có sự ttham gia của con người (cán bộ, chuyên viên kế toán) có những kỹ năng và trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, được phân công và tổ chức một cách khoa học hợp lý với sự hỗ trợ của các phương tiện phù hợp (thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, sổ sách…). - Đầu ra: là các thông tin kế toán đáp ứng theo yêu cầu của người sử dụng bao gồm các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, các cấp quản trị cũng như phục vụ hoạt động tác nghiệp tại các bộ phận bên trong doanh nghiệp.
Trong các yếu tố của hệ thống thông tin kế toán, quy trình xử lí kế toán là phức tạp nhất, vì vậy để hiểu rõ về hệ thống thông tin kế toán cần nắm được quy trình xử lý kế toán trong một doanh nghiệp. [8] Các yếu tố cơ bản của hệ thống thông tin kế toán được mô tả ở hình 1. Phần Phần cứng mềm Dữ liệu kế Thông tin kế toán toán Con người Cơ sở Các quy dữ liệu trình, thủ tục Hình 1. Các yếu tố cơ bản của hệ thống thông tin kế toán b.
Quy trình xử lý kế toán trong doanh nghiệp Với chức năng thông tin và kiểm tra về tình hình tài sản, nguồn vốn và quá trình kinh doanh, công tác kế toán tại một doanh nghiệp cần được tổ chức theo một quy trình chặt chẽ và khoa học. Trong điều kiện hạch toán thủ công, Luan van 11 tùy thuộc đặc điểm kinh doanh, quy mô và yêu cầu cụ thể của người quản lí doanh nghiệp mà việc tổ chức các nghiệp vụ ghi chép, xử lí và cung cấp thông tin có thể khác nhau nhưng đều tuân thủ theo quy trình xử lí như ở hình 1. - Ghi nhận : là giai đoạn đầu tiên của quy trình kế toán, thực hiện chức năng thu thập các dữ liệu liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong doanh nghiệp. - Xử lý: là giai đoạn tiếp theo của quy trình kế toán.
Trên cơ sở các dữ liệu trên chứng từ, kế toán thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu của quản lý. - Báo cáo: đây là bước công việc cuối cùng trong quy trình xử lý kế toán với đầu ra là các báo cáo kế toán phục vụ cho nhu cầu thông tin của người sử dụng. Quy trình kế toán trong doanh nghiệp được mô tả ở hình 1. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh KẾ TOÁN CHI TIẾT Ghi Chứng từ kế toán Nhận Nhật ký Các sổ chi tiết Xử lý Sổ cái Các bảng tổng hợp chi tiết Bảng cân đối tài khoản Báo cáo Báo cáo tài chính KẾ TOÁN TỔNG HỢP Hình 1.
Quy trình kế toán trong doanh nghiệp Luan van 12 1. Mối liên hệ giữa hệ thống thông tin kế toán với các hệ thống khác trong doanh nghiệp Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp là một hệ thống đa dạng, phức tạp với nhiều chức năng được thực hiện bởi các bộ phận khác nhau, có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ, cung cấp thông tin lẫn nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả. Các hệ thống thông tin như hệ thống thông tin tài chính, hệ thống thông tin nhân sự, hệ thống thông tin bán hàng, hệ thống thông tin sản xuất không tách biệt nhau mà thường chia sẽ với nhau các nguồn lực chủ yếu của hệ thống và tất cả chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống thông tin kế toán. Các hệ thống thông tin chức năng này cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống thông tin kế toán và từ những dữ liệu này, hệ thống thông tin kế toán có nhiệm vụ xử lí chúng thành thông tin hữu ích cung cấp trở lại cho các bộ phận để thực hiện chức năng của mình.
Ví dụ, hệ thống thông tin kế toán cung cấp thông tin về tình hình tồn kho vật tư cho bộ phận cung ứng, thông tin về tình hình công nợ khách hàng cho bộ phận bán hàng…. Mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán với các hệ thống thông tin khác trong doanh nghiệp được trình bày ở hình 1. Hệ thống MIS Hệ thống thông tin thông tin bán hàng sản xuất AIS Hệ thống Hệ thống thông tin thông tin nhân sự tài chính Hình 1. Mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán với các hệ thống thông tin khác trong doanh nghiệp Luan van 13 Như vậy, hệ thống thông tin kế toán cùng với các hệ thống thông tin chức năng khác tạo nên hệ thống thông tin quản lý hoàn chỉnh phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Các hệ thống thông tin này liên kết hệ thống thông tin quản trị với hệ thống tác nghiệp, đảm bảo sự vận hành của doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán theo phần hành và theo chu trình a. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán theo phần hành Tổ chức hệ thống thông tin theo phần hành kế toán là việc tổ chức thông tin trong một phần mềm kế toán độc lập, toàn bộ dữ liệu kế toán được phân loại và xử lý theo từng đối tượng nhất định. Trong tổ chức kế toán truyền thống, để theo dõi, hạch toán, quản lý và cung cấp thông tin về các đối tượng kế toán, người ta thường tổ chức công tác kế toán theo các phần hành như : kế toán tiền, kế toán vật tư hàng hóa, kế toán công nợ, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, kế toán tiêu thụ.
Mỗi phần hành kế toán có nhiệm vụ theo dõi, hạch toán và cung cấp thông tin về một hoặc một số đối tượng nhất định và do một nhân viên kế toán phụ trách một cách độc lập, chịu trách nhiệm thu thập kiểm tra, xử lý tất cả các chứng từ liên quan đến các nghiệp vụ tăng giảm và ghi sổ theo từng đối tượng kế toán thuộc phần hành. Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán theo phần hành giúp theo dõi và cung cấp thông tin về số dư đầu kỳ (số lượng và giá trị), tình hình phát sinh tăng, phát sinh giảm trong kỳ và số dư cuối kỳ của từng đối tượng. Tuy nhiên, kế toán không phải là điểm khởi đầu mà thường ghi nhận, xử lý kết quả của các hệ thống thông tin khác và các bộ phận chức năng đều cần thông tin kế toán cung cấp nên hệ thống thông tin kế toán theo phần hành không thể khai thác hay kế thừa dữ liệu và thông tin từ các bộ phận trong Luan van 14 doanh nghiệp, hạn chế thông tin kế toán hỗ trợ cho các bộ phận khác tác nghiệp, giảm hiệu quả công tác.