Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thông tin kế toán phục vụ kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp sản xuất. Chương 2: Thực trạng tổ chức thông tin kế toán phục vụ kiểm soát chi phí tại Công ty TNHH Đồ gỗ Nghĩa Phát. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức thông tin kế toán phục vụ kiểm soát chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Đồ gỗ Nghĩa Phát 6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Tác giả đã tham khảo một số luận văn Thạc sỹ kinh tế - chuyên ngành kế toán với các đề tài có liên quan đến lĩnh vực hệ thống thông tin kế toán đã bảo vệ tại Trƣờng Đại Học kinh tế Đà Nẵng từ năm 2005 đến năm 2008.
- Đề tài “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục vụ kiểm soát chi phí tại công ty CP Đầu tư xây dựng công trình Đô thị Đà Nẵng” của tác giả Đặng Thị Quý Thanh. Đề tài này nghiên cứu việc tổ chức thông tin kế toán trong các doanh nghiệp xây dựng. Luan van 4 - Đề tài “Kế toán q uản trị thông tin phục vụ kiểm soát chi phí tại công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ. - Đề tài “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp chế biến gỗ ở tỉnh Bình Dương”, tác giả Phan Văn Út, thực hiện năm 2005 Có thể thấy rằng các đề tài trên đã có nghiên cứu, xem xét và đƣa ra biện pháp để tổ chức thông tin kế toán phục vụ cho việc kiểm soát chi phí sản xuất của các doanh nghiệp xây lắp hay xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất gỗ.
Tuy nhiên, để tổ chức các thông tin kế toán nhằm phục vụ kiểm soát chi phí sản xuất trong doanh nghiệp chế biến gỗ thì vẫn chƣa có đề tài nào đƣợc thực hiện. Với đề tài “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán nhằm phục vụ kiểm soát chi phí sản xuất tại công ty TNHH đồ gỗ Nghĩa Phát”, đây là một đề tài tƣơng đối mới tại công ty, hiện chƣa đƣợc nghiên cứu, nhƣng đƣợc sự tƣ vấn và giúp đỡ tận tình của cán bộ hƣớng dẫn khoa học TS. Đoàn Thị Ngọc Trai, tác giả đã chọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh - Chuyên ngành Kế toán. Đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu đặc điểm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp chế biến gỗ, thông tin kế toán phục vụ cho công tác kiểm soát chi phí sản xuất tại công ty TNHH đồ gỗ Nghĩa Phát, từ đó phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức thông tin phục vụ kiểm soát chi phí sane xuất tại công ty theo hƣớng thống nhất thông tin dự toán và thông tin thực hiện theo đối tƣợng cần kiểm soát chi phí để có thể kiểm soát chi phí sản xuất hiệu quả hơn.
Luan van 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN PHỤC VỤ KIỂM SOÁT CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ Chức năng kiểm soát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quá trình quản lý và đƣợc thực hiện bởi công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ. Khái niệm về kiểm soát và kiểm soát chi phí a) Kiểm soát Khái niệm: Kiểm soát là quá trình áp dụng những cơ chế và phƣơng pháp để đảm bảo rằng các hoạt động và thành quả đạt đƣợc phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mục của tổ chức. Vai trò của kiểm soát : Do hoạt động sản xuất kinh doanh của con ngƣời là hoạt động có ý thức nên ngƣời ta phải quản lý hoạt động này để tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ sau.
Do đó, kiểm soát là một chức năng quan trọng trong công tác quản trị nó diễn ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình kinh doanh từ việc ra quyết định dến việc lập kế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch đó để đạt mục tiêu mong muốn. b) Kiểm soát chi phí. Khái niệm: Kiểm soát chi phí là việc sử dụng các phƣơng pháp thích hợp nhằm đánh giá việc thực hiện kế hoạch chi phí từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hƣởng để đề ra biện pháp điều chỉnh thích hợp thông qua đó đánh giá trách nhiệm của các bộ phận có liên quan. Vai trò của kiểm soát chi phí đối với người quản lý: Kiểm soát chi phí nó mang tính liên tục và đều đặn.
Trong việc quản lý, điều quan trọng nhất là nhà quản lý phải nhận diện đƣợc đâu là chi phí kiểm soát đƣợc để đề ra biện Luan van 6 pháp kiểm soát chi phí thích hợp. Nên bỏ qua những chi phí không thuộc phạm vi kiểm soát của mình nếu không việc kiểm soát chi phí sẽ không mang lại hiệu quả so với công sức, thời gian bỏ ra. Nội dung kiểm soát chi phí. - Kiểm soát các loại chi phí: xác định chi phí theo từng công đoạn rồi sau đó đảm bảo thực hiện cho đƣợc những mục tiêu chi phí đã đề ra bằng cách theo dõi sát và kiểm tra tất cả các mặt của quá trình sản xuất.
Chi phí phát sinh trong suốt thời kỳ xác định đƣợc tập hợp theo loại và so sánh với số liệu tƣơng ứng đã tập hợp đƣợc cùng kỳ trƣớc đó. - Kiểm soát tính hiệu quả hoạt động trong từng bộ phận của doanh nghiệp: Theo đó sẽ làm rõ đƣợc nguyên nhân của hiệu quả hoạt động thấp và trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với kết quả chung của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, mục tiêu của kiểm soát chi phí là xem xét: + Mức độ hoàn thành kế hoạch theo tiến độ đã đƣợc lập. + Chi phí thực tế phát sinh so với dự toán.
+ Xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí.2 Các khái niệm cơ bản và mục tiêu của kiểm soát nội bộ. a) Các khái niệm cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) là công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát trong mọi quy trình quản lý của đơn vị. Hệ thống KSNB cung cấp thông tn cho cả bên trong và bên ngoài của một tổ chức. Vì vậy để ngƣời sử dụng tin cậy vào tính chính xác và trung thực của thông tin đòi hỏi tổ chức phải duy trì một hệ thống KSNB hữu hiệu.
Vấn đề đặt ra là cần hiểu rõ bản chất của KSNB. Hiện nay có rất nhiều khái niệm Luan van 7 về hệ thống kiểm soát nội bộ, để hiểu thực chất vấn đề ta xem xét những định nghĩa sau: - Hệ thống bao gồm rất nhiều chế độ và thể thức đặc thù đƣợc thiết kế để cung cấp cho ban quản trị sự bảo đảm hợp lý các mục tiêu và mục đích quan trọng của tổ chức sẽ đƣợc thỏa mãn. Những chế độ và thể thức này đƣợc gọi là quá trình kiểm soát và kết hợp lại thì hình thành cơ cấu kiểm soát nội bộ của tổ chức. - Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể.
Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ các chính sách quản lý, bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện gian lận hoặc sai sót, tính chính xác và đầy đủ của các ghi chép kế toán và đảm bảo lập trong thời gian mong muốn những thông tin tài chính tin cậy. Theo định nghĩa này thì KSNB là một chức năng thƣờng xuyên của đơn vị. - Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 400: Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị đƣợc kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập Báo cáo tài chính trung thực và hợp lý nhằm bảo vệ, quản lý, và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Các định nghĩa trên cho thấy kiểm soát nội bộ đƣợc các nhà quản lý thiết lập để điều hành mọi nhân viên, mọi loại hoạt động của doanh nghiệp.
Kiểm soát nội bộ không chỉ giới hạn trong chức năng tài chính và kế toán, mà còn phải kiểm soát mọi chức năng khác nhƣ về hành chính, quản lý sản xuất… Nhƣ vậy cần có một quan điểm đúng đắn về kiểm soát nội bộ, phải nhận thức rằng nó không thể là hệ thống kỹ thuật đơn thuần, hay không thể Luan van 8 cho rằng kiểm soát nội bộ chỉ thuộc về các nhà quản lý. Mà kiểm soát nội bộ phải là một hệ thống đòi hỏi mọi thành viên trong đơn vị cùng tham gia kiểm soát các hoạt động vì chính họ là nhân tố quyết định mọi thành quả chung. KSNB không phải là một quá trình đơn lẻ mà kết hợp với nhiều quá trình khác và là một phần của hoạt động của tổ chức. KSNB là một công cụ của quản lý.
KSNB có hiệu qủa khi quá trình đạt đƣợc mục tiêu và ngƣợc lại. KSNB là một kế hoạch của tổ chức, là phƣơng pháp và biện pháp đƣợc sử dụng để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên không phải mọi tổ chức, mọi lúc bằng mọi giá phải đạt đƣợc các mục têu của mình mà cần có sự bảo đảm hợp lý. Sự bảo đảm hợp lý: Một cơ cấu kiểm soát nội bộ cung cấp sự bảo đảm hợp lý, không phải bảo đảm tuyệt đối, là các BCTC đƣợc trình bày trung thực và tài sản vật chất đƣợc bảo quản.
Cơ cấu kiểm soát nội bộ đƣợc Ban quản trị triển khai sau khi đã nghiên cứu cả chi phí lẫn lợi ích của quá trình kiểm soát và Ban quản trị thƣờng không thực hiện một hệ thống kiểm soát lý tƣởng vì chi phí sẽ rất lớn. Một hệ thống kiểm soát hợp lý là đảm bảo đƣợc lợi ích thu đƣợc lớn hơn chi phí thiết lập nó. b) Mục tiêu của kiểm soát nội bộ: Mỗi tổ chức đều có một nhiệm vụ và nhà quản trị nhận ra rằng phải có sự phố hợp giữa nhiệm vụ và mục tiêu trong tổ chức và trong các hoạt động chuyên môn thuộc phạm vi của tổ chức.