CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIẺN VỀ TỒ CHỨC SẢN XUẤT CHUYÊN MỤC VÈ PHÁP LUẬT TRÊN ĐÀI TRUYỀN THANH CÁP HUYỆN 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài 1. Tổ chức sản xuất Theo Từ điên Tiếng Việt: “Tô chức là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận đê cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung” [80, tr. Tổ chức còn là làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất.
Trong cuốn Tô chức nội dung thiết kế, trình bày báo in, tác giả Hà Huy Phượng có đề cập đến “7o chức nội dung báo và tạp chí là việc lập kế hoạch nội dung từng sổ báo, trang bảo, tạp chí sắp xuất bản, tổ chức thực hiện để đạt được mục đích, mục tiêu và đáng ứng đến nhu cầu tiếp nhận thông tin mà công chúng cơ quan báo chỉ đó hướng đến” [60, tr. 2], Hiểu theo nghĩa thông thường, tổ chức là hoạt động sắp xếp một cách có hệ thống những người được nhóm lại với nhau nhằm để đạt được những mục đích nhất định. Công tác tổ chức bao hàm hai nội dung cơ bản là Tổ chức cơ cấu (tổ chức quá trình quản trị và tổ chức cơ cấu sản xuất kinh doanh) và Tổ chức quá trình (tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình chuẩn bị cho sản xuất sản phẩm). Mỗi tổ chức điều hành thành trên một cấu trúc nhất định nào đó và cùng hoạt động để đạt được mục đích mà từng cá thế, cá nhân đơn lẻ không thể thưc hiên đươc.
Như vây, có thể thấy, sư khác biêt về muc đích chính là # • • yếu tố phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác. Như vậy, tổ chức là những tập hợp bao gồm nhiều cá thể, nhiều thành viên rõ ràng, những thành viên này sẽ đưa ra các quyết định và xác định mục đích hướng đến. Và chính các thành viên này cũng sẽ thực hiện hàng loạt hành động, hành vi để thực hiện hóa các mục tiêu, mục đích đã đề ra theo sự phân công công việc và phân công nhiệm vụ. Cũng theo Từ điển Tiếng Việt: “sản xuất tạo ra vật chất cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đoi tượng lao động” [80, tr.
324], là hoạt động bằng sức lao động của con người hoặc bằng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành của cải vật chất cần thiết. Vật phẩm cho xã hội phải được hiểu bao gồm sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần mang những nét đặc thù. Tính đặc thù của sản phẩm phụ thuộc vào các nhân tố sản xuất như nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn, phương tiện sản xuất và công nghệ sản xuất. Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những yếu tố sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Gía thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm. Thuật ngữ sản xuất trước đây chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu hìnhhay dịch vụ. Hệ thống sản xuất có các đặc tính: Một là, hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho nhu cầu xã hội.
Hai là, các hình thức sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau, đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung của nó là chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra có tính hữu dụng, có ích cho đời sống con người. Các đầu vào sản xuất là nguyên liệu, lao động, các phương tiện sản xuất, kỹ năng quản trị .Các đầu ra của sản xuất là sản phẩm hay dịch vụ và các ảnh hưởng khác đến đời sống xã hội [82, tr. 20], Giáo trình giảng dạy môn Tổ chức lao động, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho rằng: “Qúa trình sản xuất là quả trình con người dùng sức lao động của mình thông qua công cụ lao động tác động vào đổi tượng lao động, nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm có ích cho nhu cầu xã hội” [82, tr. Nếu coi sản xuất là một quá trình tổ chức sản xuất là biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối quan hệ và phối họp hoạt động của các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia vào quá trình sản xuất đó một cách họp lí theo gian.
Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các biện pháp, phương pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ và phân bố chúng một cách hợp lí về không gian. Đe tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chia quá trình sản xuất tạo nên các sản phẩm thành các quá trình riêng. Căn cứ vào phương pháp, kỹ năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành nên loại hình sản xuất, cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và tổ chức công tác điều phối sản xuất. Như vậy có thể hiểu, tổ chức sản xuất là làm ra những gì cần thiết để liên kết với người lao đồng, các quy trình lao động đế tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thiết thực cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, trên cơ sở các quy tắc ngề nghiệp và theo quy trình nhất định.
Thực chất của quá trình tổ chức sản xuất là việc phân chia quá trình sản xuất phức tạp thành quá trình thành phần (tức là các bước công việc), trên cơ sở đó áp dụng những hình thức công nghệ, các biện pháp tổ chức phân chia công lao động và các phương tiện, công cụ lao động thích họp. Trong quá trình đó tìm biện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Có thể nói bất kỳ hoạt động sản xuất nào nhằm phục vụ đời sống của con người đều càn có cách tổ chức sản xuất hiệu quả, từ khâu lựa chọn đầu vào, sử dụng máy móc trang thiết bị nào, trình độ lao động ra sao để phù hợp với yêu cầu công nghệ, lãnh đạo, tổ chức phân công lao động như thế nào cho hợp lí theo không gian và thời gian sao cho mọi hoạt động đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Và cuối cùng, tổ chức sản xuất có vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất.
Từ những điều trên, có thể khẳng định: tô chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu trong một quá trình khép kín từ đầu đến cuối để đạt được mục tiêu, mục đích sản xuất đề ra. Tô chức sản xuất gồm nhiều nhóm người, nhiều bộ phận cùng tham gia để tạo nên sản phẩm cuối cùng Bất cứ một hoạt động sản xuất nào cũng cần có đến kế hoạch tổ chức sản xuất tỉ mỉ, trong đó cần cân bằng tốt vai trò của bộ phận trong dây truyền sản xuất nhằm tạo ra sức mạnh liên kết đặc biệt. Mồi bộ phận đều có một vai • • trò cụ thể và luôn hoạt động theo cơ chế bổ trợ lẫn nhau. Sản phẩm hoàn thiện là công sức của tất cả các bộ phận tham gia quy trình sản xuất.
Chỉ cần một bộ phận không phát huy được hết khả năng và để xảy ra sai sót thì cả quy trình sản xuất cũng sẽ bị ảnh trong mọi tình huống.thì nguồn nhân lực đó sẽ dễ dàng thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức sản xuất. # Bên cạnh đó, tổ chức sản xuất cũng chịu ảnh hưởng của tác động khách quan. Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nố cách mạng khoa học công nghệ đang biển đổi từng ngày, càng lúc càng hiện đại và hoạt động tinh vi hon. Nếu cứ tiếp tục sử dụng những tư liệu sản xuất lâu đời thì tốc độ sản xuất và chất lượng sản phẩm sẽ không đáp ứng kịp nhu cầu của đối tượng tiêu dùng hiện đại.
Tổ chức sản xuất phải mang tính khoa học, nghĩa là phải kết hợp được những yếu tố cần thiết, tối ưu nhất về con người với các tư liệu sản xuất hiện đại và một phương thức sản xuất hợp lí để tạo ra dây truyền sản xuất cho ra đời những sản phẩm tốt nhất. Chuyên mục Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chuyên mục (báo chí) là mục dành riêng cho một đề tài nhất định xuất hiện định kỷ và chiếm một chỗ cố định • • • • +/ # • trên báo chí, do một hay nhiều người viết chuyên mục phụ trách. Một chuyên mục có đông đảo bạn đọc không những vì nội dung vẩn đề được nêu ra mà còn vì tính hấp dẫn mang phong cách độc đáo và trình độ của những cây bút chuyên trách” [28, tr. Theo Từ điến tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Chuyên mục là mục thường kỳ trên báo, trên đài phát thanh, truyền hình dành riêng cho một vấn đề” [80, tr.
Còn theo ông Clas Thor - chuyên gia báo chí của tổ chức SIDA (một dự án mà chính phủ Thụy Điển đầu tư nhằm xây dựng nền báo chí Việt Nam chất lượng cao thể hiện ở tính chuyên nghiệp, công khai, trung thực và tương tác với công chúng), khi được hỏi về chuyên mục, ông cho rằng: “Chuyên mục là mục có tỉnh định kỳ ôn định về vị trí và nội dung, do một hoặc nhiều người biết. Một tờ báo lên duy trì một chuyên mục đê người đọc có thê thấy dễ dàng. Báo chí Thụy Điển chú trọng đến chuyên trang nhiều hơn chuyên mục” [54, tr. Trong cuốn sách Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in, Nxb lý luận chính trị, năm 2006, tác giả Hà Huy Phượng có nhận xét: “Chuyên mục là một phần dành riêng cho một hai một số đề tài, thê loại báo chỉ, ra định kỳ, được xác định về vị trí trưng bày, phong cách thể hiện, dung ỉưọng tác phẩm, khả năng ưu việt đoi tượng công chúng bảo chí toàn người sáng tạo tác phâm, thời gian duy trì có thể dài, tạo được ấn tưọng, sức hấp dẫn riêng, góp phần xây dựng bản sắc cho cơ quan báo chí” [60, tr.
Chuyên mục có sức hút và sức sống trong mỗi tờ báo. Nó tạo nên phong cách và là sợi dây giữ mối quan hệ lâu dài với công chúng.