Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử của tác giả Võ Thị Thơm (Trường Đại học Thủ Dầu Một, năm 2015) tập trung làm sáng tỏ đề tài "Tổ chức quân đội nhà Nguyễn (1802 - 1858)". Trong tiến trình lịch sử quân chủ Việt Nam, nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng, nắm quyền tự chủ trọn vẹn trong 60 năm (1802 - 1862) và duy trì được nền an lạc xã hội tương đối cho đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào năm 1858. Để bảo vệ vương triều và thiết lập trật tự quốc gia sau giai đoạn nội chiến kéo dài, các vị vua đầu triều (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) đã chú trọng xây dựng hệ thống quân đội thống nhất từ trung ương đến địa phương, vừa kế thừa các mô hình tổ chức truyền thống, vừa tiếp thu có chọn lọc kỹ thuật quân sự phương Tây. Tác giả chọn đề tài nhằm mục đích nghiên cứu có hệ thống các giá trị tổ chức quân sự thời hậu kỳ trung đại, đúc rút bài học kinh nghiệm cho công tác quốc phòng hiện nay và phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy lịch sử.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài xác định 2 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ quá trình hình thành quân đội dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI - XVIII) nhằm nhận diện cội nguồn và tiến trình phát triển của hệ thống tổ chức quân sự nhà Nguyễn.
  2. Trình bày các vấn đề cơ bản trong tổ chức quân đội nhà Nguyễn giai đoạn 1802 - 1858 (bao gồm phép tuyển chọn binh lính, cơ cấu tổ chức, binh chủng, quân hiệu, cấp hiệu, binh khí và hình thức luyện tập), từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm và hạn chế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bộ máy tổ chức quân đội nhà Nguyễn, bao gồm cơ cấu quân đội, biên chế tổ chức, các cấp chỉ huy, phép tuyển chọn, cách thức luyện tập và các loại binh khí được trang bị.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 (thời điểm vua Gia Long lên ngôi thiết lập triều đại) đến năm 1858 (khi thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng).
  • Phạm vi không gian: Không gian lãnh thổ Việt Nam trên phạm vi toàn quốc dưới sự cai trị của triều Nguyễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xác định cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn gốc, bản chất của quân đội và đấu tranh vũ trang trong xã hội có giai cấp. Về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp cốt lõi của sử học:

  • Phương pháp lịch sử: Bám sát trình tự thời gian, sự kiện và bối cảnh lịch sử cụ thể để phục dựng quá trình thiết lập, kiện toàn và biến đổi của quân đội từ thời chúa Nguyễn đến các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
  • Phương pháp logic: Đánh giá bản chất, đặc điểm của thể chế quân sự, làm rõ mối liên hệ giữa chính trị và quân sự, đồng thời chỉ ra tính kế thừa và nét dị biệt của quân đội nhà Nguyễn so với các triều đại Lý, Trần, Lê sơ.
  • Phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp tư liệu, đối chiếu sử liệu và lập bảng thống kê số liệu để lượng hóa quy mô biên chế, quân số và trang bị vũ khí.

Về nguồn tư liệu, khóa luận phân loại và khai thác 3 nhóm nguồn chính:

  • Nguồn tư liệu bậc 1 (chính sử): Nguồn tư liệu chủ đạo gồm bộ Khâm định Đại Nam Hội điển Sử lệ (Nội các triều Nguyễn, đặc biệt là phần Bộ Binh gồm 40 quyển từ quyển 137 đến 178 quy định về phẩm hàm, quân hiệu, phép kén lính, thao diễn, hỏa khí, tượng chính, mã chính), Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn, khai thác 4 kỷ đầu phần Chính biên), Minh Mạng chính yếu (khai thác các quyển 14, 20 - 25), cùng Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí.
  • Nguồn tư liệu bậc 2: Các công trình nghiên cứu, khảo cứu chuyên sâu như Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới (Phan Ngọc Liên), Giáo trình Lịch sử Việt Nam tập 3 (Nguyễn Cảnh Minh).
  • Nguồn tư liệu bậc 3: Các bài báo khoa học chuyên khảo trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (bài viết của Đỗ Văn Minh), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Quân sự (bài viết của Vĩnh Hồ, Thượng tá Nguyễn Minh Đức, Lê Thị Toán).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của quân đội chúa Nguyễn (thế kỷ XVI - XVIII)

Nội dung chương 1 tái hiện bối cảnh khủng hoảng chính trị phong kiến từ đầu thế kỷ XVI dẫn tới sự phân liệt Nam - Bắc triều và cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 đã đặt nền móng cho việc xây dựng lực lượng quân sự Đàng Trong. Quân số ban đầu theo Nguyễn Hoàng khoảng 3.000 người, đến đầu thời Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) tăng lên 3 vạn và đến thời Nguyễn Phúc Tần đạt khoảng 16 vạn người.

Quân đội chúa Nguyễn được phân thành ba lực lượng chính:

  • Quân túc vệ (Thân quân): Trực tiếp bảo vệ cung điện Phú Xuân, ban đầu gồm hai vệ Tả tiệp và Hữu tiệp (mỗi vệ 50 người), tuyển chọn từ con em dòng dõi võ quan và có nguyên quán tại huyện Tống Sơn (Thanh Hóa). Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi gọi là Dực lâm quân.
  • Quân chính quy thường trực: Đóng tại các dinh, tổ chức thành các cấp doanh (đứng đầu là chưởng doanh), cơ (đứng đầu là chưởng cơ), đội (do đội trưởng và cai đội phụ quản) và thuyền. Số lượng thuyền và lính giữa các cơ không đồng đều; ví dụ cơ Trung hậu có 60 thuyền (3.287 người), cơ Tả trung có 14 thuyền (783 người), cơ Hữu trung kiên có 10 thuyền (500 người).
  • Thổ binh (Tạm binh, Thuộc binh): Binh lính tuyển tại chỗ ở địa phương từ dinh Quảng Nam trở vào, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng đất mới và phòng ngừa xung đột biên viễn. Nhóm này không hưởng lương bổng mà được miễn trừ sưu dịch. Ngoài ra còn có các đội chuyên trách sai dịch, phục vụ như cắt cỏ voi, cỏ ngựa (cứ 100 suất đinh lấy 2 suất lính).

Về binh chủng, chúa Nguyễn phát triển mạnh bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh. Thủy quân Đàng Trong sở hữu các thuyền chiến trang bị tới 30 mái chèo, bố trí 3 khẩu đại bác ở mũi và 2 khẩu hai bên. Đáng chú ý là việc xác lập chủ quyền biển đảo thông qua đội Hoàng Sa (lập thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, định mức 70 suất lấy dân xã An Vĩnh) và đội Bắc Hải (lập cuối thế kỷ XVII, hoạt động tuần tra từ Hoàng Sa đến Hà Tiên). Năm 1653, triều đình tổ chức 4 đội pháo cơ với quy mô 1.000 người. Phép tuyển binh thi hành chế độ duyệt đinh (3 năm tiểu điển, 6 năm đại điển), phân hạng đinh nam từ 18 đến 50 tuổi thành: tráng, quân, lão, tật, cố, cùng, đào vong.

Giai đoạn nội chiến với phong trào Tây Sơn, Nguyễn Ánh xây dựng lại lực lượng tại Gia Định: thành lập đạo quân cảm tử Chiến tâm thuộc doanh Trung quân, lập các vệ Vũ cự, đặt ngạch phủ binh (1778). Về trang bị, Nguyễn Ánh thúc đẩy đóng thuyền chiến bọc đồng theo kỹ thuật châu Âu (năm 1789 đóng 40 thuyền và 100 thuyền biển, năm 1793 mua chiến hạm châu Âu tháo dỡ để sao chép như tàu Long Ngư, Long Phi, Bằng Phi...). Đến năm 1790, quân thường trực của Nguyễn Ánh có 3 vạn lính chia thành 5 doanh (Trung, Tả, Tiền, Hậu, Tiên phong). Cùng năm 1790, Nguyễn Ánh hoàn thành xây dựng thành Bát Quái Gia Định (chu vi 4.176 m) theo nguyên lý kiến trúc Vauban phương Tây kết hợp bố cục Á Đông.

Chương 2: Tổ chức quân đội nhà Nguyễn (1802 - 1858)

Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, phân tích toàn diện đường lối, tổ chức bộ máy và cơ cấu quân sự thời kỳ 1802 - 1858:

  • Nhận thức và chính sách tổ chức: Nhà Nguyễn thành lập sau cuộc chiến với Tây Sơn nên không áp dụng triệt để chính sách "ngụ binh ư nông" truyền thống mà duy trì đội quân thường trực tập trung quy mô lớn. Thời Gia Long, triều đình sử dụng nhiều sĩ quan người Pháp (như Olivier, Vannier, De Forsans, Dayot) huấn luyện thủy binh và lục quân, thiết lập đền Hiển Trung, Sinh Trung và lập sổ hoan dưỡng chăm sóc thương binh. Thời Minh Mạng, tư duy tổ chức quân đội tiếp thu phương Tây mang tính chủ động: chủ trương "quân cốt tinh nhuệ, không cốt đông", giảm số người cầm cờ từ 40 người xuống còn 2 người trong mỗi vệ (500 quân), dùng quân nhạc làm hiệu lệnh, diễn tập hợp đồng bộ - thủy và biên soạn sách giáo trình thủy chiến. Đến thời Tự Đức, tư duy quân sự suy giảm tính đổi mới, quay lại các phép tắc cổ, việc luyện tập hạn chế (mỗi năm bộ binh chỉ bắn tập 1 lần với 6 viên đạn, 50 lính mới có 5 khẩu súng), dẫn đến sự tụt hậu về trang bị trước hỏa lực của quân viễn chinh Pháp năm 1858.

  • Bộ máy tổ chức quân đội:

    • Tại kinh đô: Nhà vua nắm quyền chỉ huy tối cao, điều hành thông qua 5 phủ Đô đốc (Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Tiền quân, Hậu quân), đứng đầu là Đô thống chưởng phủ sự. Dưới mỗi quân phiên chế thành doanh (5 vệ), vệ (10 đội), đội (5 thập), thập (10 người), ngũ (5 người). Lực lượng vệ binh tại kinh đô chia thành: Thân binh (vệ Cẩm Y, Kim Ngô, Loan Giá, Tuyển Phong và doanh Vũ Lâm); Cấm binh (các doanh Thần Cơ, Tiền Phong, Long Vũ, Hổ Oai, Hùng Nhuệ, Kỳ Vũ, các vệ Khinh Kỵ, Thượng Tứ, Phi Kỵ...); Tinh binh (gồm Ngũ bảo, ngũ quân và 3 doanh thủy binh). Tuyến phòng vệ kinh đô quy tụ gần 40.000 quân, riêng khu vực nội kinh thành chiếm gần 34.000 quân.
    • Tại địa phương: Thời Gia Long chia nước thành Bắc thành, Gia Định thành và các Trực doanh. Sau cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832 của Minh Mạng, cả nước chia thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên. Quân đóng tại tỉnh gọi là cơ binh, do Đề đốc (tỉnh lớn) hoặc Lãnh binh, Phó lãnh binh (tỉnh nhỏ) chỉ huy, được biên chế thành liên cơ, cơ, đội, thập, ngũ. Dưới thời Gia Long, lực lượng cơ binh cả nước đạt khoảng 150.000 người.
    • Tại khu vực trọng yếu:
      • Hải đảo: Bố trí 7 đồn trấn giữ tại 24 cửa biển tỉnh Quảng Yên; đặt các pháo đài Biện Sơn, Tĩnh Hải (Thanh Hóa), Trấn Hải (Thừa Thiên), Điện Hải, An Hải (Quảng Nam). Tái lập đội Hoàng Sa năm 1803 do Cai cơ Võ Văn Phú quản lĩnh; năm 1832 xây đồn trên đảo Phú Quốc (bố trí 50 lính tỉnh cùng đại bác hồng y, quá sơn); năm 1836 xây đồn và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn (chu vi mỗi mặt 12 trượng, cao 5 thước, cắt cử 1 suất đội và 50 lính thường trực thay phiên hàng năm).
      • Biên giới: Củng cố hệ thống bảo, đồn ải tại các tỉnh biên giới phía Bắc (Hưng Hóa, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Yên); vùng biên giới Tây Nam giáp Cao Miên tổ chức các đội biên phòng từ dân sở tại (năm 1826 dồn 518 dân sóc Cao Man lập 10 đội thuộc chi Kiên Hùng; năm 1833 lập cơ An Biên; năm 1835 lập 2 cơ An Man 1 và 2 từ 823 dân Chàm; lập cơ An Man 3 từ 223 dân Bồ Đà).
      • Vùng đất mới khai khẩn: Triều đình lập chế độ đồn điền tại Nam Bộ, điều động đinh tráng địa phương (năm 1836 điều động 1/5 đinh tráng, gồm 1.813 lính ở Biên Hòa, 6.143 lính ở Gia Định, 3.575 lính ở Định Tường). Đồn điền binh được chia 3 tốp luân phiên: 2 tốp thao diễn hoặc công tác trị an, 1 tốp cày cấy sản xuất lương thực.
  • Cơ cấu binh chủng, quân hiệu, cấp hiệu và số quân:

    • Binh chủng: Gồm bộ binh (mỗi vệ chuẩn trang bị 2 thần công, 200 súng điểu thương); thủy binh (thời Gia Long có 36.000 thợ đóng tàu và lính thủy; thời Minh Mạng năm 1836 lập 3 doanh Thủy sư kinh kỳ gồm 15 vệ với 7.742 lính); tượng binh (định ngạch toàn quốc năm 1829 là 500 thớt voi, trong đó kinh đô có 150 thớt voi chia làm 3 vệ kinh tượng, thao diễn riêng 24 lần và chung 12 lần/năm); kỵ binh (Long kỵ binh, kỵ xạ, sau chuyển dần sang cưỡi ngựa bắn súng và phục vụ nghi lễ); pháo binh (doanh Thần Cơ chỉ đạo kỹ thuật, bố trí súng đại luân xa, quá sơn, tích sơn, hồng y; kinh thành Huế có 705 cỗ súng, cửa biển Thuận An có 169 cỗ).
    • Quân số và chỉ huy: Tổng quân số năm 1820 đạt 204.220 người; năm 1840 đạt 212.000 người (gồm 4 vạn quân bảo vệ triều đình, 15.000 thủy binh và 10 vạn biền binh). Cấp hiệu phân định từ Nhất phẩm (Tướng quân), Nhị phẩm (Thống chế), Tam phẩm (Lãnh binh, Vệ úy), Tứ phẩm (Chưởng vệ, Quản cơ), Ngũ phẩm (Chánh suất đội), Lục phẩm (Phó suất đội), Thất phẩm (Thập trưởng, Đội trưởng) đến Bát phẩm (Ngũ trưởng).
    • Phép tuyển chọn: Quy định tuyển theo số đinh: thời Gia Long quy định Bắc Thành 7 đinh lấy 1 lính, 6 trấn miền núi phía Bắc 10 đinh lấy 1 lính thổ binh, vùng từ Quảng Bình vào Bình Thuận 3 đinh lấy 1 lính, Gia Định (năm 1814) 8 đinh lấy 1 lính; thời Tự Đức tỷ lệ giảm xuống trung bình 8 đinh lấy 1 lính.

Chương 3: Đánh giá về tổ chức và vai trò của quân đội nhà Nguyễn

Chương 3 tổng kết các đặc trưng, mặt tích cực, hạn chế và vị trí lịch sử của quân đội triều Nguyễn:

  • Đặc điểm: Quân đội mang tính tập trung quan liêu dưới sự kiểm soát trực tiếp của hoàng quyền; cơ cấu phiên chế có tính thống nhất cao về quy mô doanh, vệ, cơ, đội; kết hợp vũ khí cổ truyền với các loại hỏa khí phương Tây; hình thành thế trận phòng thủ liên hoàn từ kinh kỳ, các tỉnh nội địa đến biên ải và hải đảo.
  • Ưu điểm: Xây dựng được lực lượng thường trực đông đảo, chính quy; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và duy trì an ninh trật tự trong hơn nửa thế kỷ độc lập; thực thi hiệu quả chủ quyền quốc gia tại các vùng biển đảo chiến lược; mô hình đồn điền quân sự đóng góp lớn vào công cuộc khai hoang vùng đất Nam Bộ.
  • Hạn chế: Tổ chức quân sự mang nặng tính chất đối nội nhằm củng cố vương quyền dòng họ; gánh nặng quân dịch đè nặng lên đời sống nông dân; trang thiết bị và kỹ thuật tác chiến không được cập nhật kịp thời ở nửa sau thế kỷ XIX; tinh thần chiến đấu sa sút dưới thời Tự Đức, dẫn đến sự bất lực trước hỏa lực vượt trội của thực dân Pháp khi chiến tranh xâm lược nổ ra năm 1858.
  • Vai trò: Là chỗ dựa quân sự quyết định sự tồn tại và củng cố thể chế nhà Nguyễn; giữ vai trò bảo vệ cương thổ và xác lập chủ quyền biển đảo; đồng thời tham gia trực tiếp vào việc khai phá đất hoang và xây dựng công trình phòng thủ quốc gia.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất, xử lý hệ thống số liệu cụ thể từ các bộ chính sử của triều Nguyễn, thể hiện qua các bảng đối chiếu sau:

Bảng 1: Phân định hệ thống phẩm trật, quan tước và đơn vị chỉ huy thời Nguyễn

Phẩm trật Quan tước chính Đơn vị chỉ huy phụ trách Quy mô quân số quản lý
Nhất phẩm Tướng quân / Ngũ quân Chưởng phủ sự Đạo / Ngũ quân Toàn bộ lực lượng quân đội
Nhị phẩm Thống chế / Đô thống Doanh 2.500 - 4.800 lính
Tam phẩm Lãnh binh / Vệ úy Vệ 500 - 600 lính
Tứ phẩm Chưởng vệ / Quản cơ Cơ 500 - 600 lính
Ngũ phẩm Chánh suất đội Đội 50 lính
Lục phẩm Phó suất đội Đội 50 lính (phụ tá)
Thất phẩm Thập trưởng / Đội trưởng Thập 10 lính
Bát phẩm Ngũ trưởng Ngũ 5 lính
Cửu phẩm Thơ lại Hành chính quân nhu Không trực tiếp cầm quân

Bảng 2: Tỷ lệ điều động tuyển quân theo số đinh theo vùng địa lý thời Gia Long

Địa bàn khu vực Tỷ lệ tuyển chọn đinh nam Phân bổ ngạch quân
Từ Quảng Bình đến Bình Thuận 3 đinh lấy 1 lính Bổ sung vào các dinh, vệ, cơ của các quân
Các trấn Bắc Thành (đồng bằng) 7 đinh lấy 1 lính Bổ sung vào 5 quân và các chi, hiệu, đội
Nghệ An và Thanh Hóa 7 đinh lấy 1 lính Bổ sung vào các dinh vệ quân Thần sách
Gia Định Thành (quy định năm 1814) 8 đinh lấy 1 lính Lập lực lượng cơ binh bảo vệ biên phòng phía Nam
6 trấn miền núi phía Bắc 10 đinh lấy 1 lính Lập các cơ đội thổ binh do thổ mục cai quản

Bảng 3: Thống kê định ngạch lực lượng tượng binh toàn quốc năm 1829

Địa bàn bố trí Cơ cấu tổ chức Số lượng binh lính Số lượng thớt voi
Kinh đô Huế 3 vệ (mỗi vệ 10 đội) 1.500 lính 150 thớt voi
Bắc Thành 3 cơ (mỗi cơ 10 đội) 750 lính 110 thớt voi
Gia Định Thành 10 đội 500 lính 75 thớt voi
Tỉnh Bình Định 4 đội 200 lính 30 thớt voi
Tỉnh Nghệ An 3 đội 150 lính 21 thớt voi
Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa Mỗi tỉnh 2 đội 100 lính/tỉnh 15 thớt voi/tỉnh
Quảng Trị, Phú Yên, Ninh Bình, Bình Thuận... Mỗi tỉnh 1 đội 50 lính/tỉnh 7 thớt voi/tỉnh
Tổng số định ngạch toàn quốc Hệ thống vệ, cơ, đội — 500 thớt voi

Về mặt đóng góp khoa học, công trình cung cấp bức tranh chi tiết, có căn cứ văn bản về cơ chế tổ chức quân đội triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX. Khóa luận góp phần làm phong phú nguồn tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy môn Lịch sử Việt Nam thời trung đại cho học sinh, sinh viên các khối ngành sư phạm và khoa học xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu:

  • Về phạm vi: Nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 1858 khi thực dân Pháp bắt đầu tấn công, do đó chưa đi sâu khảo sát sự biến đổi, suy sụp và phân hóa của bộ máy quân sự triều đình trong giai đoạn kháng chiến chống xâm lược (1858 - 1884).
  • Về nguồn tư liệu: Đề tài chủ yếu dựa vào nguồn chính sử triều Nguyễn (Hội điển, Thực lục, Chính yếu), do đó các ghi chép mang đậm tính pháp chế quan phương; văn bản chưa có điều kiện khai thác mở rộng các tài liệu lưu trữ quân sự của phương Tây hoặc hồi ký của các nhân chứng người Pháp thời kỳ này để kiểm chứng chéo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát giai đoạn 1858 - 1884; so sánh đối chiếu quy mô và hiệu quả tác chiến của quân đội nhà Nguyễn với quân đội các vương quốc lân bang cùng thời (như Xiêm La hay nhà Thanh); đi sâu vào công tác khảo sát thực địa dấu tích thành lũy, đồn ải và các xưởng vũ khí còn tồn tại.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Sư phạm Lịch sử và Cử nhân Lịch sử trong việc tìm hiểu chuyên đề lịch sử quân sự Việt Nam thời trung đại.
  • Giáo viên lịch sử tại các trường phổ thông khi chuẩn bị giáo án bài học về triều Nguyễn, đặc biệt là các nội dung liên quan đến tình hình kinh tế - chính trị - quân sự nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Những người nghiên cứu quan tâm đến vấn đề chủ quyền biển đảo, có thể khai thác các số liệu cụ thể ở Chương 2 về biên chế đội Hoàng Sa, quy cách xây dựng đồn Thanh Hải (Côn Lôn), đồn Phú Quốc và hệ thống pháo đài ven biển miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ tuyển mộ quân dịch theo số đinh dưới thời vua Gia Long được phân định như thế nào giữa các vùng miền?
Triều đình quy định: khu vực từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ 3 đinh tuyển 1 lính; các trấn đồng bằng Bắc Thành, Thanh Hóa và Nghệ An cứ 7 đinh tuyển 1 lính; khu vực Gia Định Thành (theo điều lệ năm 1814) cứ 8 đinh tuyển 1 lính; riêng 6 trấn miền núi phía Bắc cứ 10 đinh lấy 1 lính để lập các cơ đội thổ binh.

2. Cơ cấu lực lượng Thủy sư kinh kỳ dưới thời vua Minh Mạng được tổ chức ra sao?
Năm 1836, vua Minh Mạng tổ chức Thủy sư kinh kỳ gồm 3 doanh (Trung doanh, Tả doanh, Hữu doanh) với 15 vệ (tổng cộng 7.742 lính), đặt dưới quyền chỉ huy của Thủy sư Đô thống. Binh lính được tuyển lựa từ cư dân ven biển các tỉnh miền Trung như Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

3. Binh chủng Tượng binh toàn quốc được triều đình định ngạch quản lý như thế nào vào năm 1829?
Năm 1829, triều đình định ngạch toàn quốc có 500 thớt voi chiến. Tại kinh đô có 150 thớt voi chia thành 3 vệ kinh tượng (kinh tượng nhất, nhị, tam); tại các địa phương voi được phiên chế thành cơ và đội (Bắc Thành 110 thớt, Gia Định Thành 75 thớt, Bình Định 30 thớt, Nghệ An 21 thớt...), do lãnh binh hoặc quản cơ các tỉnh trực tiếp chỉ huy.

4. Nhà Nguyễn đã tổ chức bảo vệ chủ quyền tại các hải đảo phía Nam (Côn Lôn, Phú Quốc) bằng biện pháp cụ thể nào?
Năm 1832, vua Minh Mạng cho xây đồn bằng đá núi tại Phú Quốc, đặt pháo hồng y và pháo quá sơn, điều 50 lính tỉnh đến đồn trú. Năm 1836, triều đình xây dựng đồn và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn (mỗi mặt dài 12 trượng, cao 5 thước), phái 1 suất đội và 50 lính thuộc tỉnh cùng thuyền chiến và vũ khí đến đóng giữ, luân phiên thay quân hàng năm.

5. Hệ thống chỉ huy quân sự nhà Nguyễn phân định cấp bậc từ cấp cơ sở đến cấp cao nhất gồm những chức danh gì?
Từ thấp đến cao gồm: Ngũ trưởng (chỉ huy ngũ 5 người, hàm Bát phẩm), Thập trưởng/Đội trưởng (chỉ huy thập 10 người, hàm Thất phẩm), Phó suất đội (hàm Lục phẩm), Chánh suất đội (chỉ huy đội 50 người, hàm Ngũ phẩm), Quản cơ/Chưởng vệ (chỉ huy cơ 500 người, hàm Tứ phẩm), Lãnh binh/Vệ úy (chỉ huy vệ, hàm Tam phẩm), Thống chế/Đô thống (chỉ huy doanh, hàm Nhị phẩm) và Tướng quân/Ngũ quân Chưởng phủ sự (hàm Nhất phẩm, đứng đầu 5 phủ Đô đốc dưới quyền tối cao của nhà vua).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Võ Thị Thơm đã phục dựng bức tranh tổng thể và chi tiết về tổ chức quân đội nhà Nguyễn giai đoạn 1802 - 1858 trên cơ sở khai thác nguồn chính sử phong phú. Công trình làm rõ quá trình chuyển hóa tổ chức quân sự từ thời chúa Nguyễn đến việc hoàn thiện bộ máy chính quy bao quát các binh chủng, hệ thống cấp hiệu, phép tuyển quân và bố phòng biên viễn, hải đảo. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác nghiên cứu học thuật và giảng dạy lịch sử quân sự Việt Nam thời trung đại.