CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN TỘC THÁI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ 1. Bản làng và ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái 1. Bản làng truyền thống của dân tộc Thái * Vị trí: Người Thái sống tập trung theo nhóm người, thành lập nên một đơn vị hành chính nhỏ nhất gọi là bản.
Bản làng của người Thái ở vùng Tây Bắc thường nằm ở khu vực ven đồi thấp, chân núi, ven sông suối, các khu vực miền núi và trung du có khả năng khai khẩn ruộng nương để trồng trọt sinh sống. “Bản của người Thái trước đây không phải là tổ hợp của các gia đình nhỏ, tư hữu với sự phân chia tách bạch, rạch ròi theo từng khuôn viên mà nó là một tập hợp cư dân mang tính cộng đồng một cách tự nhiên. Mỗi thành viên trong bản luôn coi tổ chức bản làng là chỗ dựa tin cậy về mặt vật chất và tinh thần trong suốt cuộc đời họ” [11]. Người Thái không bao giờ làm nhà xây bản ở trên đầu nguồn nước.
* Quy mô: Quy mô bản lớn nhỏ không đều, thường số lượng nóc nhà mỗi bản là mười đến mười lăm nóc nhà. Bản làng có khi lên đến hàng trăm nóc nhà. Bản gồm nhiều dòng họ khác nhau cùng cộng cư chung sống và có ý thức cộng đồng cao. Một số nơi người Thái sống xen người Mường nhưng các nhánh Thái Đen, Thái Trắng thường sống thành bản riêng [11].
* Cơ cấu tổ chức không gian: Đầu bản bao giờ cũng có rừng gọi là rừng cúng (pá tu xửa), là nơi diễn ra các hoạt động thờ cúng các nghi lễ. Người Thái không bao giờ chặt phá cây rừng ở đây. Cuối bản có rừng ma, là nơi để các nhà mồ của người chết. Trong mỗi bản thường dành ra một khoảng đất trống, rộng 600 – 1500 mét vuông để làm khu vui chơi giải trí, ngày lễ tết hoặc họp chợ phiên.
Nhà cửa thường xây bám theo địa hình phổ biến quay lưng vào núi, hướng mặt ra thung lũng, đồng ruộng, suối sông,. (như được thể hiện trên hình 1. Bản của người Thái có đất ruộng, bãi chăn nuôi và nguồn nước riêng. Trang 6 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay Hình 1.
Sơ đồ cơ cấu không gian bản làng truyền thống dân tộc Thái. (Nguồn: 16) Mô hình cấu trúc làng bản truyền thống theo hai dạng: dạng cấu trúc dải (hình 1.2) và cấu trúc thung lũng (hình 1. Cấu trúc theo dải. Cấu trúc dạng thung lũng.
(Nguồn: 13) * Hướng nhà: Bản của người Thái gồm nhiều nhà sàn dựng liền nhau. Nhà nọ nói nhà kia nghe rõ. Đây là kiểu bố cục để chống thú dữ và giặc cướp vào bản. Hướng nhà sàn thường là hướng của cả bản.
Sống ở vùng rừng núi, việc chọn hướng nhà lúc nào cũng lấy những ngọn núi, những dòng sông làm chuẩn. Ngọn núi và dòng sông là những vật cố định, có sức sống biểu hiện ra ngoài rất mãnh liệt. Dòng sông chảy quanh năm không bao giờ hết nước, ngọn núi suốt bốn mùa cây cối Trang 7 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay xanh tốt. Chọn hướng nhà nhằm vào dòng sông ngọn núi chính là để chủ nhà thừa hưởng tất cả những sức sống mãnh liệt đó của thiên nhiên.
Đồng bào kiêng chọn hướng nhà nhìn vào khoảng trống giữa hai trái núi, quan niệm nó như hình ảnh miệng rồng đang há rộng, sẵn sàng nuốt đi tất cả sự giầu sang của chủ nhà, uy hiếp sự bình an của mọi người [3]. Người Thái không bao giờ chọn hướng nhà chọc nóc vào nhau, các nhà sàn được bố trí song song và so le nhau sao cho nhà nọ không che khuất tầm nhìn của nhà kia vì họ quan niêm “Ngủ tựa lưng vào núi, mặt nhìn ra phía thoáng đãng”. Đồng bào cũng kiêng đặt đòn nóc nhà gác lên hai đầu trái núi. Việc chọn hướng nhà hay hướng của cả bản bao giờ cũng thuận theo và thích nghi với thiên nhiên núi rừng, làm nhà theo địa hình, tựa lưng vào địa hình, hướng nhà thuận theo hướng gió.
Đặc biệt, đồng bào không bao giờ làm nhà trên gò và sống núi, sống đồi. Người Thái gọi những đường đó là “tang phì loong” nghĩa là “đường ma chạy ma đi” (hình 1. thống dân tộc Thái. (Nguồn: 16) hướng nhà của bản làng truyền Hình 1.
Cách bố trí và chọn * Khuôn viên: Xóm làng người Thái có cây cối xanh tốt, nhiều loại cây ăn quả, khung cảnh đẹp đẽ trữ tình. Mỗi ngôi nhà nằm trong tổng thể bản được ngăn chia tự nhiên hoặc hàng rào tre mỏng, có lối vào riêng nối với ngõ xóm. Trong khuôn viên ngoài ngôi nhà chính thường có sân nhà, vườn cây. Hệ thống chuồng trại gia súc gia cầm trước nhốt dưới gầm nhà sàn nay hầu hết chuyển ra thành khu riêng [14].
* Chiềng và Mường: Nhiều bản tập hợp lại thành Chiềng. Mường của người Thái là một tổ chức Trang 8 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay xã hội, tập hợp nhiều Chiềng và nhiều bản trên một lãnh thổ nhất định và có thành phần cư dân thuần nhất và không thuần nhất. Hiện nay cơ cấu Mường đã được thay bằng tổ chức hành chính tương đương cấp xã và huyện. Trong đó bản vẫn tồn tại và thích ứng với điều kiện nông thôn mới, ngay cả trong cơ cấu hợp tác xã trước đây cũng như trong chính sách khoán hộ hiện nay [3, 11, 13, 15].
Bản làng người Thái truyền thống (Bản Sôm, xã Mường Nhà, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Ngôi nhà truyền thống Ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái là nhà sàn. Nhà sàn là một biểu tượng văn hóa của dân tộc Thái và có nhiều giá trị kiến trúc. Ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái có đặc điểm như sau: a) Về phân bố Dân tộc Thái sinh sống chủ yếu ở vùng Lai Châu, Bắc Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình và vùng Thanh Nghệ.
Theo vùng dân cư và các nhóm địa phương có thể chia thành các kiểu nhà sàn: - Kiểu nhà sàn của dân tộc Thái trắng vùng Lai Châu, Bắc Sơn La và Hoàng Liên Sơn gọi là “hướn tụp lặt” hay “hướn Táy đăm” có đầu hồi mái dốc nghiêng, mặt bằng hình chữ nhật, có lan can chạy trước hoặc xung quanh nhà, bốn mái vươn ra bốn phía đều đặn (hình 1. Trang 9 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay Hình 1. Nhà sàn dân tộc Thái trắng truyền thống. (Nguồn: 18) - Kiểu nhà của người Thái đen và Thái trắng ở Sơn La và Hoàng Liên Sơn gọi là “hướn tụp cuống” hay “hướn Táy đăm”.
Nhà có mái tròn, khum khum hình mai rùa, hai nóc hồi có khắc hình gỗ trang trí gọi là khau cút (hình 1. Nhà sàn dân tộc Thái đen truyền thống. b) Tổ chức mặt bằng * Hình thức mặt bằng: Hình thức mặt bằng nhà có thể chia làm các loại sau: - Loại nhà sàn có mặt bằng chữ nhật dài hoặc vuông, có thể có lan can bao suốt xung quanh nhà hay chỉ ở phần trước nhà. Loại này gọi chung là “hướn Trang 10 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay chí” (nhà dài) hay “hướn xí tứng”.
- Loại nhà sàn hình đa giác, có hai cạnh chạy dài suốt thân nhà và sáu cạnh ngắn để tạo hai chái hồi có hình ô van, thường phổ biến ở người Thái đen, Sơn La, Hoàng Liên Sơn và Thái trắng Mộc Châu. Những nhà kiểu này thường không có cấu tạo lan can bao quanh; nếu có lan can cũng chỉ cấu tạo một bên, do kéo mái dài xuống thành hàng hiên phụ cận. Kiểu nhà này gọi là “hướn tóp khang” (nhà thu dầm) hay “hướn mốn” (nhà tròn). - Ngoài ra, còn có một số loại nhà quý tộc là những nhà gác hình tám cạnh có nhiều lối lên xuống gọi là “hướn lai tu - nhà nhiều cửa” [18].
* Số gian nhà: Đặc điểm chung của các loại nhà sàn Thái là có số gian lẻ. - Thân nhà: (gọi là “hỏng tô” – gian thân): có số gian không cố định, nhà càng dài càng thêm nhiều gian. - Hai đầu hồi nhà gọi là “hỏng tụp” và tiếp đó có thể có thêm “hỏng tịp” (gian hồi). Hỏng tụp và hỏng tịp là hai thành phần cố định của ngôi nhà do đó chỉ có hai hỏng tụp và hai hỏng tịp (hình 1.
Sơ đồ hình thể nhà sàn Thái. (Nguồn: 18) Đối với kiểu nhà ba gian hoặc năm gian người ta không hay bố trí thêm hỏng tịp vì nếu thêm hai hồi phụ nữa thì hai mái hồi sẽ dài ra, không thành hình ô van nữa. Nhà từ bảy gian trở lên thì mới bố trí hoặc cũng có thể không bố trí hỏng tịp. Nếu nhà bảy gian mà không có hỏng tịp thì bao gồm năm gian hỏng tô và hai gian hỏng tụp.
Bước gian từ 2m đến 2,9m; Gian đầu hồi tịp 1,8m đến 2,1m; tụp 1,2m đến Trang 11 Đề tài: Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay 1,8m; Nhịp phổ biến là 2,4m đến 2,9m; Nhịp có thể lên đến 5,1m. Nhà có cấu trúc theo kiểu khứ điêng có ba nhịp, hai nhịp bên dài khoảng 2 - 2,8m và một nhịp giữa dài 2,5 - 4m [15],[18]. * Giải pháp mặt bằng: Mặt bằng tầng sàn thường được bố trí như sau: Nếu phân đôi nhà sàn thành hai phần dọc theo chiều đòn nóc thì một bên đồng bào dùng làm chỗ ngủ, gian thờ cúng; một bên làm nơi tiếp khách và sinh hoạt văn hóa. Còn nếu phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang thì một bên là “quản” và một bên là “chan” cho sinh hoạt đàn ông và phụ nữ.
Lấy mặt bằng nhà Thái đen làm điển hình ta có sơ đồ mặt bằng sau: Táng chan: (hình 1.9) là phần dành cho nữ giới, gồm những gian dành cho bếp núc nội trợ và tiếp khách nữ, được ngăn che bằng vách nhẹ và có thể được chia làm hai phần: Hình 1. Không gian táng chan (mặt bằng và ảnh minh họa) (Nguồn: 18) + Phần ngoài nhà bao gồm: Cốc chan - nọ cháu (tức là phần sàn đầu cầu thang nằm ở trong mái hồi) và chan (phần sàn không có mái để phơi phóng và chỗ để nước). Táng quản: (hình 1.10) gồm những gian dành cho chủ nhà, nơi tiếp khách nam và nữ đặc biệt. Có thể chia táng quản ra làm hai phần được ngăn bằng bức vách.