CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN VẺ TÓ CHỨC KHÔNG GIAN KIÊN TRÚC CẢNH QUAN KHU VUC VEN SONG TRONG DO THI 1. Khái quát mô hình tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan ven song một số đô thị trên thế giới 1. Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan ven sông Singapore. sau 2 năm độc lập, CQVS Singapore vẫn không có gì thay đổi.
Tòa nhà đỉnh thự Fullerton là hình ảnh của KGCQ ven sông. Những công trình cao nhất Singapore lúc đó là tòa nhà của hãng bảo hiểm Châu Á của Ng keng Siang, Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc của Palmer và Tuner. Một thay đổi lớn đã diễn ra khi chính phủ công bố cho phép phát triển khu đất vàng 35 Ha trong dự án chỉnh trang. Năm 1977, một đường chân trời mới được hình thành sau 8 năm chỉnh trang.
đô thị, khoảng gần 30 khu đất được phát triển thành một khu tài chính phát triển và mở rộng. Tòa nhà Đại dương với phong cách tân cổ điển. được xây dựng từ năm 1923 đã được xây dựng lại, trong khí đó tòa nhà Hong leong đã được phát triển thêm từ một cửa hàng tạp hóa mặt phố của thế kỷ 19. Sự ồn định về kinh tế đã tạo ra nhu cầu giải trí và phát triển du lịch, kết quả là một nhà hàng có phần nóc xoay được để ngắm cảnh đã được XD.
Tòa nhà cao tẳng duy nhất lúc đó là ngân hàng quốc tế (Union Overseas Bank).Pei thiết kế, được xây dựng từ 1973 và hoàn thành 1976. đó cũng là tòa nhà cao nhất Đông nam Á thời kỷ đó. tòa nhà cao nhất tai Singapore 1a toa nha 62 ting OUB center do Kenzo tange thiết kế với chiều cao 280m vươn tới chiều cao tới hạn của Singapore lúc đó. Bên cạnh tòa nhà này còn một số nhà siêu cao tầng khác như tháp Shell.
tòa nha 41 tang Pin road, các ngân hàng HSBC.Tòa nhà hàng hải (từ 1924) cũng được xây dựng lại thành các tòa nhà tháp vươn cao. Vùng phía Nam của khu đất chiếc giày vàng được phát triển hàng loạt các nhà siêu cao tầng. Sau 10 năm, các nhà hoạch định phát triển đã hình dung ra một skyline mới: Sự thống nhất cao là tất cả các tòa nhà phải được nhìn thấy từ phía biển. Từ đó việc khai thác.
phát triển vịnh Marina Bay được triển khai tốt. tiếp đó là Telog Ayer Basin, dẫn đến sự thay đổi phát triển thương mại về phía Tây cùng với sự nạo vét, làm sạch môi trường ở cửa sông. Năm 1998 trung tâm OUB chính thức mở cửa. đó là bộ 3 tòa nhả đứng 15 cao nhất Singapore.
Bước sang thiên niên kỷ mới (2001). công tác phát triển ven vịnh Marina chuyển hướng sang bảo tồn các công trình kiến trúc cổ và tạo hình ảnh côi rình phù hợp với cảnh quan chung quanh. Đại diện cho hướng đi đó là việc chuyển đổi công năng các công trình hảnh chính sang du lịch (khách sạn) như các tòa nhà Fullrerton và Waterboad, đặc biệt phần mái của One Fullerton có hình thức lượn sóng giúp khai thác đặc trưng tự nhiên của địa điểm. Về cơ bản, hình ảnh KTCQ sông Singapore đã được phát triển từ những năm cuối của thế kỷ 20 va chuyển sang bảo tồn và khai thác bản sắc văn hóa, tự nhiên từ những năm đầu của thể Ý 21.
Điều này cho thấy sự phát triển và bảo tần chính là hai mặt của một vẫn đề trong phát triển KTCQ. sau khi đập nước Marina Bay được hoàn thành. vùng ven sông chung quanh lại bước vào mức phát triển mới với các công trình kiến trúc cao tẳng. hiện đại nhưng vẫn tôn trọng tất cả những hình ảnh trước đây, chỉ bổ sung và hoàn thiện thêm cho KTCQ ven sông qua các giai đoạn phát triển, đem lại bản sắc cho KTCQ ven sông.
Phát triển Kiến trúc cảnh quan không gian ven sông Singapore Phát triển KTCQ khong gian ven song Singapore — ï Nhận xét re = Năm 1962, sau 2 năm. ne † le độc lập, cảnh quan ven sông Singapore ví không có gì thay đối Năm 1977, một đường, chân trời mới được. hình thành sau 8 năm chỉnh trang đô thị Tir 1986 den 1995, la 1986, dat dai tang cao tai khu vực trung tâm, tạo ra xu hướng xây dựng. các công trình cao hơn và mật độ dày đặc hơn Bước sang năm 2001.
KTCQ ven sông phát triển theo hướng bảo. tổn và nâng cao bản sắc đô thị, định hưởng hình ảnh KTCQ ven sông Singapore mang bản sắc của địa điểm. 16 KTCQ ven sông Singapore có mật độ và chiều cao tăng dần sau mỗi 10 năm phát triển. điều nà! luôn gắn liền với c chính sách khi yến khích đầu tư và định hướng phát triển kinh tế của chính phủ Singapore.
Điều này phản ánh yếu tổ hiệu quả kinh tế là một động lực lớn cho sự hình thảnh và phát triển KTCQ ven sông. Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan ven sông Châu Giang, TP. Quảng Tây, Trung Quốc Nghiên cứu về TCKG kiến trúc ảnh quan của sông Châu Giang. cho thấy cái nhìn rất sớm của chính quyền, những nhà thiết kế đô thị đã biết đặt cai | hoạch đô thị dựa trên dòng sông để phát triển kinh tế hiệu quả.
Một dòng sông có châu thổ gồm 6 tỉnh Quảng Đông. Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam và Giang Tây, với tổ chức KTCQ phù hợp, đã mang lại hiệu quả kinh tế trên nhiều phương diện. ngay giữa những hòn đảo giữa dòng. sông, không chỉ là nơi gìn giữ được các chức năng bảo vệ các hệ sinh thái, còn là nơi khai thác về nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch về mặt mỹ quan, người ta có thể cảm nhận ngay tính kỳ vĩ của các thực thể này trong hệ thống cảnh quan.
Quan hệ giữa TCKTCQ với hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững là mỗi quan hệ thích ứng giữa những khái niệm rộng, then chốt n tr sinh (hái, thẩm mỹ, bền vững, kinh tế xanh, kinh tế du lịch. và hẹp hơn như hành lang xanh, HLST ( cco corridor), ving ban ngdp, ving dm ướt ( wetlands) , những quần đảo ven sông ( riparian islands) , công vién séng (river parks) , ho thity sinh (aquaculture ponds), công viên trung tam (central parks), thảm hoa (flower field), tính độc đáo và sự nỗi kết hệ thông giữa các thực thể cảnh quan. Theo đó, khu vực này đã khai thác triệt để công nghệ hiện đại để xử lý nhiều vn dé trong đô thị hóa và tổ chức KTCQ là một kinh nghiệm quý báu. Tir mét số vùng bán ngập, bằng ứng dụng công nghệ cao.
họ có thể vừa đảm bảo môi sinh vừa tận dụng đất 'đường như khó có thể xây dựng để những nơi này thành nơi ở không những thuận tiện mà nâng cao những giá trị thâm mỹ cảnh quan. Chính vì thế. tổ chức TKCQ cùng đi đôi với đô thị hóa tạo ra bản sắc của thành phó. Tận dụng các kênh rạch từ sông lớn để tạo nên không gian mở.
sự thông thoáng giữa các quần thẻ cảnh quan có giá trị và chức năng khác nhau, như giao thông. thẩm mỹ, nuôi dưỡng hệ sinh thái, nối không gian xanh với kiến trúc hiện 17 đại. Hai bên bờ sông, các tuyến xanh cùng với cách thiết kế lùi dần ra khỏi ven sông từ thấp đến cao, tạo ra cảm giác như dòng chảy được mở rộng. Ven sông › dựng "nhà chọc trời` mà không tạo ra sự bó hẹp: các tuyến giao thông cơ gi lôi đi bộ.
éi rẽ cho du thuyền, cùng với những cây cầu có đường cong. tạo ra những nét mềm mại giữa một cảnh quan sim u phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng cuộc sống. thì TCKTCQ không thể chỉ tính đến kinh tế mà không nghĩ sâu xa và nghiêm túc về những vấn đè khác, trong đó thâm mỹ. môi trương và văn hóa dường như là sự chọn lựa ta có thể thấy được ở TCKTCQ ven sông Châu Giang.
Có thể nói Châu Giang là một trong những điền hình của thế giới về khai thác hiệu quả kinh tế trong tổ chức KTCQ [12]. Seoun và sông Hàn- Hàn Quốc qua các giai doan phat triển Phu luc 1.8 Tổng quan về cảnh quan ven sông Hoàng Phó- Trung Quốc Phụ lục 1.9, Tổng quan về cảnh quan ven sông Seine - Pháp Bảng 1. Tông quan hiện trạng tỏ chức KTCỌ đô thị Châu Giang Trung Quốc Kiến trúc cảnh quan Nhận xét Sông Châu giang có hệ sinh thai đa dạng và phong phú Các công trình kiến trúc được. phân bổ từ thấp tới cao từ phía mặt nước Không gian xây dựng xen kè với không gian mở trên cơ sở đồng chảy của song ditago ( nênn hình thái đô thị có dạng | = tự do, thoát khỏi dạng tổ chức | không gian kiểu ô cớ 1.
Tổ chức kiến trúc cảnh quan ven sông Thames, London, Anh Đây là dòng sông chảy qua trung tâm Luân Đôn. thủ đô lớn nhất châu Âu trên một diện tích hơn 600 dặm vuông. với 2 bên bờ những những lâu đài soi bóng, với những cây cầu kiểu cỗ bắc ngang. Tổng quan về sông Thames cho ta nhiều bài học về sự đa dạng loại hình kiến trúc, nghệ thuật tạo hình- điêu khắc.
mạng lưới giao. thông phát triển đô thị theo hướng phi tập trung bên sông. 7 THU VIEN ( TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG 18 Về cơ ban, không gian lõi đô thị vẫn là những không gian hành chính. thương mại dịch vụ với nhiều quảng trường và lối đi ven sông.Trong quá trình phát triển sau này, một số công trình hiện đại vẫn được xây chen trong khu vực.
Sự phat trién của Luân Đôn gia tăng trong thế kỉ 18, và trở thành thành phố lớn nhất thể giới ( 1831 - 1925). Sự phát triển của Luân Đôn và KGVS Thames là gắn liền với sự phát triển của hình thái kinh tế, trong đó nổi bật là hệ thống giao thông. Sơ đỗ trên cho thấy mật độ hệ thống mạng lưới đường giao thông cao nhất ở khu vực lõi và giảm dẫn ra phía bên ngoài đô thị. Được hình thành trên nên các công trình kiến trúc cổ chủ yếu tập trung ở khu vực lõi và giảm dẫn ra phía ngoài.
Mật độ cây xanh và rừng ven sông cũng tăng dẫn từ lõi ra vùng ngoại vi. Một bài học lớn là mặc dù Luân Đôn là thành phố hiện đại. nhưng cảnh quan thiên nhiên vẫn được gìn giữ. Những không gian kiến trúc được xây dựng sau này luôn đảm bảo hài hòa về phong cách.
kết nói giữa các giá trị kiến trúc cũ và mới. Kết quả là KTCQ. KGVS giống như cuốn sách lịch sử phát triển đô thị: Quá khứ và hiện tại đan xen trong sự hài hòa của không gian kiến trúc [87].