CHƯƠNG I: XU HƯỚNG BIỂU HIỆN VĂN HOÁ Ở TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC NOCT TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. Một số khái niệm và đặc điểm chung: Trước khi nghiên cứu luận văn, tác giả đã đi tìm hiểu và xác định một số khái niệm có liên quan đến đề tài. Khái niệm và đặc điểm văn hoá Việt. Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Nhưng nếu nói một cách giản dị thì văn hóa là tất cả những yếu tố vật chất tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội, được cộng đồng đó chấp nhận, sử dụng và gìn giữ nó theo thời gian. Như vậy văn hóa là yếu tố đã có sự lựa chọn mà người làm việc đó là cả cộng đồng dân cư. Một yếu tố chỉ được coi là văn hóa của một cộng đồng khi nó "sống" và tồn tại với cộng đồng đó trong một khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, một đặc tính quan trọng khác đó là văn hóa có thể thay đổi, bổ sung và phát triển theo thời gian, cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội đó.
Bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống - ý thức của một cộng đồng, bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, cách sống, dựng nước, giữ nước, sáng tạo văn hóa, khoa học - nghệ thuật. Khái niệm Bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau quan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng phải có. “Tuy nhiên, bản sắc văn hóa cũng có cả mặt tốt, tiến bộ và mặt xấu, tiêu cực lạc hậu của nó.
Bởi vậy, việc nghiên cứu, phân tích tìm ra mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là một việc làm vô cùng quan trọng. Hơn nữa, bản sắc văn hóa không phải là một khái niệm khép kín mà là một khái niệm mở cho nên quá trình vận động và tiếp xúc văn hóa của nó cũng là quá trình bỏ cái tiêu cực và phát huy cái tích cực” [21]. Đăc điểm văn hoá Việt. Văn hoá Việt là văn hoá nông nghiệp với chủ thể là người nông dân.
Nhận xét đặc điểm đầu tiên của văn hoá Việt là xã hội lấy gia tộc làm cơ sở, dựa 6 trên mối quan hệ tình cảm mà đối đãi. ”Nhất thiết các luân lý đạo đức, chế độ văn vật, chính trị pháp luật đều lấy gia tộc làm chủ nghĩa gốc” [6]. Từ đó khiến người Việt chuộng hoà bình, thích an cư lạc nghiệp. Các đặc tính đó có thể không phải thuộc sở hữu duy nhất của dân tộc Việt, nhưng đó là yếu tố cơ bản tạo nên các nét đặc trưng của văn hoá Việt Nam.
Ngoài ra có thể thấy điểm nổi bật trong văn hoá Việt là phương cách ứng sử mềm dẻo và linh hoạt. Đặc tính này được thể hiện cả đối với thiện nhiên và các yếu tố bên ngoài. Xuất phát từ đặc điểm thiên nhiên khắc nghiệt, đòi hỏi con người làm nông nghiệp phải có cung cách ứng xử linh hoạt trong mối quan hệ với yếu tố thiên nhiên. Từ đó trong tâm thức người Việt có khuynh hướng nương nhờ, thuận theo tự nhiên mà không chiếm lĩnh, chinh phục tự nhiên.
Hình thành lối sống lấy quan điểm hoà thuận, gắn bó với tự nhiên là chủ đạo. Trong mối quan hệ xã hội nổi bật lên là tính cộng đồng đoàn kết đặc biệt, dựa trên hình thức quan hệ công xã nông thôn Việt Nam. Đây là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp, được xem như là đặc trưng của văn minh Việt Nam. Văn hóa ở là một khía cạnh của văn hóa nói chung, nó thể hiện phong tục, lối sống của người dân, với quan niệm sống đã hình thành từ bao đời nay đó là: luôn coi trọng giá trị tinh thần “lời chào cao hơn mâm cỗ”.
Một yếu tố khác tạo nên văn hóa ở của Hà Nội chính là sự hiện diện của nhiều thế hệ sống trong một gia đình “tứ đại đồng đường”, tình làng nghĩa xóm luôn được coi trọng, sống hòa nhập với thiên nhiên. Không gian bán công cộng. Không gian bán công cộng được tổ chức trong ngôi nhà ở (trên sân thượng, giữa các tầng, ở tầng 1) và còn là không gian kế cận ngôi nhà. Đây là không gian sinh hoạt nghỉ ngơi, giao tiếp cộng đồng.
Những không gian này được tổ chức dựa vào chức năng sử dụng của từng khu vực nhằm thỏa mãn nhu cầu của các lứa tuổi, đặc biệt quan trọng là chỗ chơi cho trẻ em và chỗ nghỉ của người già. Việc tổ chức không gian này rất khác nhau tạo nên ấm cúng và sắc thái riêng cho từng khu ở. Khu ở: Theo khái niệm cổ là bộ phận tạo nên phần “thị” là môi trường ở của cư dân đô thị, là nơi chốn ở của thị dân tồn tại bên cạnh phần “đô”, nơi diễn ra các hoạt động mang tính chất chính trị điều hành kể cả những hoạt động tâm linh [16]. Ngày nay các khu ở hiện đại là một bộ phận, một cấp bậc của đô thị, nó bao gồm nhiều đơn vị ở.
7 Đơn vị ở có NOCT: Là khu ở bao gồm NOCT, nhà ở nhiều tầng và nhà ở biệt thự được tổ chức không gian ở với đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng. Nơi chốn: Hàm chứa một ý nghĩa vượt lên trên một địa điểm bình thường. Nó không những được thể hiện qua đặc trưng của những yếu tố biểu hình trong không gian mà còn được thể hiện bởi tính chất của không gian đó. Nơi chốn thể hiện qua các yếu tố đặc trưng sau: Yếu tố nơi chốn phản ánh mối liên hệ giữa các yếu tố có trong môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng tạo thành khung cảnh đô thị Yếu tố nơi chốn phản ánh quá trình hình thành - phát triển của đô thị Yếu tố nơi chốn phản ánh mối liên hệ giữa địa điểm với con người, hình thành nên lối sống đặc trưng của đô thị.
Đặc điểm chung về kiến trúc NOCT: 1. Về chiều cao NOCT. NOCT thường có hai dạng chính là nhà ở và nhà ở kết hợp với các chức năng khác như văn phòng, thương mại, nhà hàng… Hiện nay ở các nước khác nhau thì quy định công trình có số tầng hay chiều cao tối thiểu để được coi là nhà cao tầng cũng khác nhau.1: Quy định về số tầng và chiều cao của NOCT ở một số nước trên thế giới [26]. Tên nước Độ cao khởi đầu nhà ở cao tầng Nhà siêu cao Trung Quốc Nhà ở cao từ 10 tầng trở lên Các nước đều có quy Kiến trúc khác trên 24 m ( từ 8 tầng) định như sau: Liên Xô Nhà ở cao từ 7 tầng trở lên Các toà nhà có số tầng (cũ) Kiến trúc khác trên 7 tầng trên 30 tầng hoặc cao Mỹ Nhà ở cao từ 22-25m ( từ 7 tầng) trên 100m Anh Nhà ở coa trên 50m ( từ 12 tầng) Kiến trúc khác trên 28m Nhật Bản Nhà ở cao từ 24m ( từ 7 tầng) Tây Đức Nhà ở ao từ 31 m ( từ 11 tầng) Bỉ Nhà ở cao từ 25m ( từ 7 tầng) 8 Tại hội thảo quốc tế lần thứ 4 về NOCT ở Hong Kong (1990) đã quy định NOCT là các công trình có từ 9 tầng trở lên.
Tại Việt Nam theo báo cáo tổng quan về quy hoạch - kiến trúc – Công nghệ các công trình NOCT trên địa bàn thành phố Hà Nội – các chuyên gia đã phân chia thành 4 loại NOCT [26]. - Loại I: từ 9 đến 16 tầng; - Loại II: từ 17 đến 25 tầng; - Loại III: từ 26 đến 40 tầng: - Loại IV: từ 40 tầng trở lên. Đặc điểm chung. - Sử dụng mặt bằng điển hình.
- Mặt bằng đơn giản hình dạng thường đối xứng. Tuỳ theo phương thức tổ hợp mặt bằng, kiến trúc NOCT được chia thành các loại. +Nhà ở cao tầng kiểu đơn nguyên: Gồm nhiều đơn nguyên độc lập được tổ hợp với nhau theo vị trí mặt bằng, địa hình, cảnh quan. +Nhà ở cao tầng kiểu tháp: Thường là một đơn nguyên đứng độc lập, có nhiều loại hình dạng mặt bằng khác nhau: Hình vuông, hình chữ nhật, chữ T, chữ Y, chữ thập, hình tự do… -Ngôn ngữ kiến trúc của NOCT phản ánh rõ nét trình độ khoa học - kỹ thuật của đất nước.
Ngoài ra nó còn là điểm nhấn của đô thị và có tác dụng định hướng không gian. -Kết cấu đơn giản, mạch lạc (sử dụng lõi cứng) xem hình 1.1 -Vật liệu hoàn thiện có tính thẩm mỹ và độ bền cao.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG THIẾT KẾ NOCT [23] 10 1. Xu hướng phát triển. -Không gian đơn vị ở của NOCT: + Cơ chế thị trường đã tạo ra lối sống cởi mở, coi trọng lợi ích về mặt kinh tế tuy nhiên yếu tố văn hoá ngày càng tác động mạnh mẽ đến cách tổ chức không gian kiến trúc nhà ở đặc biệt là NOCT (sơ đồ 1.
+ Cơ chế thị trường đã tạo ra lối sống mang tính cởi mở, hướng ngoại thích nghi với môi trường xã hội đa dạng, do vậy trong đơn vị ở NOCT, cũng có các không gian đa dạng phù hợp với các nhu cầu. +Các đơn vị ở NOCT không nhất thiết là một khu ở cách biệt với giao thông thành phố, với các linh hoạt. Dân cư trong các khu NOCT được phục vụ các dịch vụ sinh hoạt ở cao tầng cũng có hệ thống dịch vụ đáp ứng tới từng căn hộ, tới từng cá nhân. +Tổ chức các không gian trong đơn vị ở phù hợp lối sống truyền thống trên cơ sở các đơn vị ở láng giềng có quy mô hợp lý, phù hợp năng lực giao tiếp và giới hạn liên kết cộng đồng dân cư trong khu ở.
-Không gian nhà ở cao tầng: +Trong một đơn nguyên nhà ở cao tầng có nhiều loại căn hộ cho nhiều loại đối tượng có nhu cầu ở khác nhau (xem hình 1.2) +Các căn hộ ở độc lập khép kín và có tiêu chuẩn ở, tiện nghi hiện đại tương ứng với điều kiện kinh tế ngày càng đi lên của xã hội. +Không gian giao tiếp trong căn hộ ở ưu tiên cho các quan hệ có tính gia đình hay bạn bè thân thiết và có tính mở liên kết không gian môi trường tự nhiên với căn hộ (sơ đồ 1.