CHƯƠNG 1. Giải thích các khái niệm, thuật ngữ khoa học liên quan đến đề tài 1. Các thuật ngữ về “ngôn ngữ kiến trúc” Kiến trúc hay tác phẩm kiến trúc là một sản phẩm của quá trình sáng tạo vì thế tư duy cho thiết kế kiến trúc là một hoạt động sáng tạo. Sáng tạo (Creativity) ở đây được tác giả Phan Dũng định nghĩa là hoạt động tạo ra bất cứ thứ gì trong thế giới vật chất và tinh thần cùng hai yếu tố tương ứng với một tác phẩm kiến trúc là tính mới và tính lợi ích trong một phạm vi áp dụng cụ thể [15, tr.
Kiến trúc sáng tạo trong đề tài là thuật ngữ dùng để khái quát hoá những công trình kiến trúc mang ngôn ngữ sáng tạo trong phương thức biểu hiện và phương thức tư duy bằng các cơ sở lý luận là các học thuyết đã được nghiên cứu trước đó. Kiến trúc sáng tạo ở đây không nói riêng về một loại hình kiến trúc mà được nhìn từ lăng kính tư duy tạo hình và tư duy cảm nhận/ chất cảm để xét các mối liên kết về câu chuyện mà chính nó mang đến. Vậy nên, Ngôn ngữ sáng tạo là thuật ngữ dùng để khái quát một vài biểu hiện mang tính sáng tạo trong một số phong cách, xu hướng, trường phái của kiến trúc; những thủ pháp (style) thiết kế có tính mới, tính độc đáo mang cả lợi ích, ý nghĩa cụ thể cho con người đi cùng những giai đoạn chuyển biến của xã hội theo các mốc thời gian. Sự chuyển đổi ấy có thể nhìn nhận như một sự tiến hoá và thích nghi của kiến trúc với thời đại.
Đặc biệt hơn hết là khả năng truyền cảm hứng bằng tính kể (tự sự) thông qua một kiến trúc sáng tạo; tính kể (tự sự) ấy như một lối tư duy, một sự nhìn nhận, một phương thức lý luận và cũng là một mối liên kết mà một số nhà nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích. Ngôn ngữ sáng tạo của kiến trúc cũng được dùng làm luận điểm nghiên cứu nhằm nhận dạng một số 8 giá trị tiêu biểu của kiến trúc Việt Nam qua giai đoạn hình thành vả chuyển biến của xu hướng, trường phái từ không gian quốc tế đến trong nước. Cụ thể ngôn ngữ kiến trúc trong đề tài được chia thành ba nhóm ngôn ngữ phổ biến dựa theo mô thức tư duy từ những học thuyết lớn gồm: ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ cấu trúc và ngôn ngữ hiện tượng. Ngôn ngữ Hình thức Ở góc độ Ngôn ngữ học và Văn học, các nhà ngữ học Nga được biết đến với một khái niệm về Chủ nghĩa hình thức (Formalism).
Một số tác giả nổi bật thuộc nhóm hình thức luận như: Roman Jakobson, Victor Erlich, Tzvetan Todorov, v. Những người được xem là có công mở đường cho nền phê bình hiện đại. Nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng được khơi nguồn từ chủ nghĩa hình thức như: cấu trúc luận, giải cấu trúc, hiện tượng luận. Từ mong muốn đưa văn chương trở thành ‘Khoa học văn chương’ các nhà Hình thức đề ra quan điểm phê bình văn học phải dựa vào ngữ học để khảo sát tính văn chương đồng thời không dựa vào các yếu tố khác như xã hội, lịch sử để phân tích tác giả, ngữ cảnh.
Bên cạnh đó, các nhà hình thức còn quan niệm “nội dung và hình thức của tác phẩm là một và không thể tách rời” [17]. Điểm qua đôi nét về sự phát triển chủ nghĩa hình thức có thể thấy sự tương đồng rõ rệt trong giai đoạn chuyển mình của Văn học và Kiến trúc. Khi nhìn vào giai đoạn cận đại và hiện đại của kiến trúc, có thể nhắc nhớ ngay đến sự chuyển biến từ những xu hướng kiến trúc cổ điển phương tây, kiến trúc phục hưng sang Kiến trúc hiện đại (Modernism). Thế nên có thể nói trường phái hình thức là một khái niệm khoa học, một khởi điểm phù hợp và có cơ sở làm một luận điểm để lý luận cho biểu hiện Kiến trúc theo tư duy hình thức.
Ở góc độ triết học, giai đoạn Kiến trúc hiện đại cho thấy những biểu hiện trong kiến trúc có nhiều nét tương đồng với sự chuyển đổi nhận thức từ học 9 thuyết Nhất nguyên luận (Monism) đã xuất hiện từ trước. Kiến trúc ở giai đoạn khoa học và lý luận còn chưa phát triển đã tập trung hướng tới giá trị biểu trưng như các quần thể Kiến trúc Ai Cập là một minh chứng. Kế đến sau khi văn hoá, xã hội dần phát triển hơn kiến trúc lại dần hướng tới giá trị thẩm mỹ sự hài hoà, Vitruvius với Tam nguyên Kiến trúc là tiêu biểu cho giai đoạn đó. Nhìn từ góc độ Kiến trúc, Ngôn ngữ hình thức là những kiến trúc có biểu hiện sử dụng bút pháp diễn đạt theo Chủ nghĩa hình thức hay Hình thức luận (Formalism).
Tức hình thức phải đi liền với nội dung mà nội dung ở đây tương ứng với khái niệm công năng và chức năng trong giai đoạn kiến trúc Hiện đại. Thật vậy, công năng quyết định hình thức đã là một quan niệm nhất quán được sử dụng bởi các kiến trúc sư mà ngày nay người ta vẫn thường nhắc đến như Le Corbusier, Mies van der Rohe, Adolf Loos, v. Về mặt lý thuyết và ứng dụng trong Kiến trúc ở Việt Nam phải kể đến tác phẩm ‘Ngôn ngữ hình thức Kiến trúc’ do Đặng Thái Hoàng biên dịch. Tác phẩm đã diễn dịch cụ thể và quy nạp các yếu tố cơ bản của kiến trúc bao gồm: Hình dáng, Màu sắc, Chất cảm và Hoa văn.
Đặc biệt quyển sách còn chỉ ra: Điểm - Tuyến - Diện - Khối là bốn hình thức cơ bản của kiến trúc thể hiện rõ cách nhìn nhận một kiến trúc qua mô hình tư duy Hình thức luận. Kiến trúc ở mô hình tư duy này xem kiến trúc là vật thể vật lý, xem hình thức là ngôn ngữ kiến trúc thiên về cảm nhận thị giác, có thể sử dụng các phương pháp mô phỏng. Tạo hình kiến trúc dựa vào nguyên tắc mỹ học như thống nhất và biến hoá, hài hoà và đa dạng [9]. Nếu ở văn chương một văn bản được khảo sát dựa trên Ngữ học thì một kiến trúc theo lối tư duy này được khảo sát dựa trên Hình học, Mỹ học và một phần Ký hiệu học.
Ngôn ngữ Hình thức trong đề tài là thuật ngữ dùng để diễn đạt những sáng tạo kiến trúc theo phương thức mô tả, hướng về vật thể lý tính, hình ảnh hay vẻ đẹp hiển thị nhằm tìm kiếm cái đẹp về tỉ lệ, sự hài hoà, v. của một 10 công trình kiến trúc. Trong những kiến trúc sử dụng ngôn ngữ hình thức ngoài cảm nhận qua yếu tố hình ảnh - thị giác có phần đơn lẻ, khô cứng chúng ta vẫn có thể thấy trong đó một tinh thần tự sự khi xét kiến trúc qua lăng kính là một câu chuyện. Ở mô thức tư duy này kiến trúc là những câu chuyện được kể bằng đặc điểm hình thức của chính nó.
Ngôn ngữ Cấu trúc Ở góc độ Xã hội nhân văn và Ngôn ngữ học, sau Hình thức luận của các nhà ngữ học Nga, trong những năm 1960 nữa đầu thập niên 1970 là giai đoạn phồn thịnh của Chủ nghĩa cấu trúc hay Cấu trúc luận (Structuraism). Các nhà cấu trúc ở lĩnh vực văn học, triết học đã xây dựng Cấu trúc luận từ nền tảng của hình thức luận và phê bình mới trong đó phải nhắc đến tác giả Ferdinand de Saussure với nhận định ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu gồm sự kết hợp giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Về sau, phương pháp luận của ông còn tạo nên các lý thuyết làm tiền đề ứng dụng rộng sang các lĩnh vực khác trong đó có Kiến trúc như lý thuyết về các ‘mã’ (codes), ký hiệu học (semiotics), biểu tượng, ý nghĩa, v. Giai đoạn cho những thấy có nhiều nét tương đồng trong sự biến đổi kiến trúc với lý thuyết nhị nguyên luận (Dualism).
Ngôn ngữ Cấu trúc là thuật ngữ học viên dùng để diễn đạt những Kiến trúc sáng tạo theo phương thức kết hợp với tính ẩn dụ vừa mô tả hình thức, vừa mô tả ý nghĩa lẫn nội dung từ hình thức của một công trình kiến trúc. Ngôn ngữ Hiện tượng Sau Chủ nghĩa hình thức với những mâu thuẫn và quan điểm trái ngược dần tạo nên nhiều nhánh phát triển khác nhau nhưng trong số đó phải kể đến nhà triết học Mikhail Mikhailovich Bakhtin. Cũng xuất thân từ nhóm hình thức nhưng với quan điểm khác biệt, ông phê phán phương pháp máy móc của chủ nghĩa hình thức chỉ chú ý đến văn bản mà bỏ quên con người. Ông là một trong những người đâu tiên nghiên cứu văn chương trên bình diện Triết học, áp 11 dụng Hiện tượng luận và Ký hiệu học vào phê bình, đi từ lối viết của nhà văn để giải thích môi trường xã hội và bản thân tác giả [17].
Ở góc độ Triết học, không thể không kể đến tác giả Edmund Husserl nhà triết học Đức, cha đẻ của trường phái Hiện tượng học. Hiện tượng học (Phenomenology) cũng khởi phát từ mong muốn đưa triết học thành một ngành khoa học được công nhận, về sau phát triển mạnh mẽ và đa dạng trong cách lĩnh vực từ văn học, xã hội học, ngôn ngữ học, v. Và đặc biệt Hiện tượng học có ảnh hưởng lớn đến Kiến trúc cả về tư duy thiết kế, nhìn nhận và lý luận phê bình kiến trúc. Ở Việt Nam, tác giả Đặng Thái Hoàng với Hiện tượng học Kiến trúc là một trong những tác phẩm đầu tiên được vận dụng hiện tượng học để đánh giá kiến trúc.
(Ví dụ như về hồn nơi chốn, môi cảnh, v.) Ngôn ngữ Hiện tượng là thuật ngữ học viên dùng để diễn đạt những kiến trúc sáng tạo theo phương thức gợi mở và kết hợp nhiều yếu tố ngoại vi ngoài hình thức và ý nghĩa như: không gian, thời gian, bối cảnh xã hội, văn hoá, tính địa phương, v. của một công trình kiến trúc. Các thuật ngữ về “tự sự” 1. Trong nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ và thi pháp, Tự sự học (Narratology) được biết đến là một lĩnh vực nghiên cứu về cấu trúc kể chuyện, tường thuật/ trần thuật và những phương thức ảnh hưởng đến nhận thức của con người.
Ở Việt Nam vào những năm đầu khi Tự sự học được giới thiệu, người ta còn băn khoăn khi lựa chọn sử dụng thuật ngữ tự sự hay tường thuật. Nhiều học giả trên thế giới như Trung Quốc, Nga, Mỹ đa phần cũng sử dụng thuật ngữ tường thuật cho nghiên cứu trong bài viết đầu tiên của mình, nhưng 12 các bài viết sau đó lại chuyển sang dùng thuật ngữ tự sự.