Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM 1. Không gian học tập 1. Nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về không gian học tập trong trường học cũng như khu vực ngoài trường học, có nhiều định nghĩa và cách nhìn khác nhau về không gian học tập. Trong lý thuyết học tập kinh nghiệm (ELT) (Kolb1984) khái niệm không gian học tập, dựa trên lý thuyết trường Kurt Lewin và khái niệm không gian sống của ông, được sử dụng để xây dựng tính chất phức tạp và năng động của phong cách học tập.
Không gian này tồn tại trong trải nghiệm của người học và được hình thành bởi cả hai yếu tố khách quan như môi trường vật lý và thời gian dành cho việc học và bởi các yếu tố chủ quan như sở thích và kỳ vọng học tập. Christine Mary Boynton (2010), “Không gian học tập tại trường: So sánh việc dạy và học toán ở không gian ngoài lớp học với không gian trong lớp học” tác giả đã đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa không gian học tập trong và ngoài lớp học sau đó đặt ra các câu hỏi liên quan đến việc người học tiếp thu kiến thức ở không gian bên ngoài lớp học tốt hơn hay tiếp thu kiến thức trong một không gian của lớp học tốt hơn. Mục đích nghiên cứu của tác giả là tìm ra một không gian hoàn hảo cho việc tiếp thu những kiến thức về toán học trong đó môn hình học không gian thì người học tiếp thu kiến thức nhanh và tốt hơn khi học ở bên ngoài không gian của lớp học. 7 Yanxia Wu (2018), “Không gian trực tuyến và giảng dạy trí tuệ” tác giả cho rằng không gian học tập trực tuyến là một môi trường học tập ảo làm thay đổi và ảnh hưởng sâu sắc đến nền giáo dục của các nước trên thế giới.
Tác giả cũng được đưa ra một số nghiên cứu và thực hành về không gian học tập từ các nước Mỹ, Anh, Úc cho thấy rằng không gian dạy học trực tuyến ảnh hưởng đến toàn bộ không gian trường học bao gồm lớp học, thư viện, không gian học tập ngoài trời và các khu vực khác. Trong môi trường của không gian học tập trực tuyến thì giáo viên là người hướng dẫn và học sinh phải hoàn toàn chủ động trong việc học của mình qua hoạt động tự học để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Victoria Raish and Joseph Fennewald (2016), với bài báo khoa học “Vai trò của người quản lý trong không gian học tập” đã đề cập đến vai trò của những người quản lý trong không gian học tập. Không gian học tập tác giả đề cập đến đó là không gian học tập tại thư viện và người quản lý không gian này chính là những cán bộ thư viện.
Cán bộ thư viện là người giám sát không gian học tập và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng không gian học tập. Thái độ và trình độ chuyên môn của những người quản lý là một trong những yếu tố tác động đến không gian mà họ quản lý. Một người quản lý thân thiện và nhiệt tình sẽ thu hút người đọc đến với thư viện nhiều hơn bởi vì khi sử dụng không gian học tập thì có thể người học sẽ gặp một số khó khăn khi sử dụng các thiết bị và công nghệ. Người quản lý thường xuyên quan sát khi người học gặp vấn đề thì sẵn sàng can thiệp và giúp đỡ họ.
Từ đó người học sẽ đến sử dụng không gian học tập tại thư viện nhiều hơn để tự học, tự nghiên cứu và tham gia các hoạt động học tập trải nghiệm. Nghiên cứu khoa học “Phát triển không gian học tập trong giáo dục của tác giả Phil Wood, Paul Warwick and Derek Cox (2012) đã phân tích các yếu tố hình thành nên một không gian học tập hiệu quả trong các trường đại học đó là một căn phòng được trang bị đầy đủ những thiết bị hiện đại như máy tính, đường truyền Internet, tài liệu, ánh sáng, bàn ghế. Tác giả giới thiệu mô hình không gian học tập của một số trường đại học nổi tiếng qua đó phân tích các yếu tố tác động đến môi trường học tập của người học, người học được tác giả nói đến chính là những 8 học sinh đến từ nhiều trường khác nhau. Ở đó tùy vào đặc điểm của HS mà họ cần có mộ môi trường học tập phù hợp với nhu cầu học tập của chúng.
Qua đó tác giả cho rằng không gian học tập cần được thiết kế cho phép người học được trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau để tự học, tự tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Barrie James Todhunter (2014),“Đánh giá của các bên liên quan trọng sự phát triển không gian học tập tại trường đại học địa phương” tác giả đề cập đến không gian học tập chính thức là giảng đường, là thư viện và không gian học tập không chính thức là khuôn viên trường và các không gian học khác ngoài khuôn viên trường. Tác giả cho rằng, không gian học tập chính thức mới là nơi tạo điều kiện hỗ trợ cho người học nhiều hơn những không gian học tập không chính thức và không gian học tập chính thức được thiết kế phù hợp và trang bị những thiết bị hiện đại để hỗ trợ việc học tốt nhất. Barrie James Todhunter (2015), “Kiểm tra các quan điểm của các bên liên quan chính trong sự phát triển không gian học tập của trường đại học trong khu vực”, chủ yếu đưa ra các luận điểm để xây dựng không gian học tập.
Tác giả chú trọng đến diện tích của không gian học tập, một không gian học tập có diện tích lớn sẽ thu hút đông đảo người học. Nghiên cứu trong nước Ở nước ta có rất ít đề tài nghiên cứu về không gian học tập và tổ chức không gian học tập. Phần lớn những nghiên cứu gần đây tập trung về không gian học tập được tổ chức tại thư viện, điển hình như: Bài viết “Không gian học tập mở tại thư viện đại học – mô hình mới phục vụ học tập và sáng tạo của sinh viên” của Bùi Loan Thùy và Phạm Thị Thanh Vân (2014) đã nêu lên những nét chung về không gian học tập mở tại thư viện và so sánh sự khác biệt trong cách tổ chức hoạt động không gian học tập mở của thư viện đại học Việt Nam với thư viện đại học nước ngoài. Bên cạnh đó bài viết giới thiệu mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện Beanland, Đại học Rmit Việt Nam và đưa ra kết luận không gian học tập mở là môi trường kết nối và hợp tác.
Không gian này tạo ra một môi trường tự học chất lượng cao vừa thể hiện được tài nguyên 9 thông tin của thư viện vừa tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học tập đa dạng của người học và tăng cường hợp tác giữa người học và người dạy. Không gian học tập mở là không gian lý tưởng rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm hỗ trợ các nỗ lực học tập và phát triển trí tuệ đối với người học để họ tìm kiếm thông tin, khám phá, nghiên cứu và phát triển kiến thức, kỹ năng nghiên cứu của mình đáp ứng các đòi hỏi mới của thế kỷ XXI. Đây là một mô hình học tập mới cần mở rộng tại các thư viện đại học của Việt Nam. Năm 2015, Bùi Văn Hồng và cộng sự cũng đã nghiên cứu vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của kolb (1984) vào trong dạy học môn Nghề tin học phổ thông cấp THCS, qua đó, đã đề xuất tiền trình và kế hoạch dạy học cho môn học.
Kết quả thực nghiệm bước đầu cho thấy dạy học môn nghề tin học phổ thông cấp THCS theo vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm đảm bảo được tính vừa sức trong học tập; các hoạt động học tập của học sinh luôn gắn liền với trải nghiệm thực tế và thực hành chủ động, giúp học sinh đạt được kết quả học tập tốt nhất. Bùi Văn Hồng, Nguyễn Thị Lưỡng (2011) với bài viết “Ảnh hưởng của môi trường lớp học thực hành máy điện đến kết quả học tập của sinh viên” đã đề cập đến môi trường của lớp học bao gồm môi trường vật chất và môi trường tâm lý theo đó môi trường vật chất gồm có: Diện tích, bàn ghế, ánh sáng, màu sắc, phương tiện, thiết bị, nguồn tài liệu học tập, môi trường, môi trường tâm lí là sự tương tác giữa trò-trò, thầy-trò, tương tác giữa trò và thiết bị. Các tác giả đã đi đến kết luận yếu tố vật chất trong môi trường lớp học có tác dụng giúp cho SV hình thành kiến thức, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp. Các yếu tố tâm lí có tác động tích cực đến thái độ học tập của sinh viên từ đó nâng cao chất lượng dạy học.
“Xu hướng xây dựng không gian học tập chung” của Nguyễn Minh Hiệp (2011) đã mô tả hình dáng của không gian học tập chung đó là sự kết hợp giữa phòng đọc thư viện với phòng máy tính gồm trang thiết bị hiện đại, sảnh nghỉ ngơi, nơi thảo luận hội họp nhóm trong một không gian riêng biệt. Nói chung là nơi để mọi người cùng nhau học tập trong một môi trường tiện nghi không gò bó như giảng đường hay thiếu những phương tiện học tập như thư viện truyền thống. 10 Bài viết “Thiết kế “xanh” cho không gian thư viện hiện đại” – lược dịch của Nguyễn Tú Quyên (2014) đã đưa ra nhiều ý tưởng thiết kế không gian học chung phân tích các dẫn chứng về thư viện “xanh” sau đó đưa đến các kết luận: Thư viện- đó không chỉ là những gì bên trong và không gian cảnh quan được tổ chức bên ngoài. Thư viện-không phải là đối tượng đứng ngoài cuộc mà là một khu vực tạo ra ý tưởng cho tương lai, trong đó môi trường ngày càng trở nên ý nghĩa hơn.
Các dự án và việc thực hiện thư viện “xanh” thành công hơn ở những nơi áp dụng tiêu chuẩn về môi trường, có các chuyên gia tư vấn và sự hỗ trợ tài chính để đáp ứng những tiêu chuẩn này. Cần giải quyết các vấn đề môi trường và song song với đó là vấn đề phát triển thư viện mở.