Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kỹ thuật 29 Chương 3: Hoàn thiện tổ chức kế toán tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kỹ thuật 29 Luan van 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò và nguyên tắc tổ chức kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về kế toán và tổ chức kế toán trong doanh nghiệp Kế toán có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm của mỗi tác giả, như: Theo giáo trình Kế toán tài chính của Học Viện Tài chính (2013): Kế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý và xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người [5]. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa học ký thuật, kế toán – một môn khoa học cũng đã có sự thay đổi, phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp… để đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao của nền sản xuất xã hội.
Theo giáo trình Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp của Học viện Tài chính (2011): Kế toán là một môn khoa học, một nghề nghiệp và cũng là một trong công cụ quản lý kinh tế quan trọng của doanh nghiệp [13]. Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Do vậy kế toán là công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý của doanh nghiệp, kế toán còn là khoa học thu thập, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Theo giáo trình Nguyên lý kế toán của Trường Đại học Thương mại (2009) thì kế toán là “khoa học, thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình tài sản và sự biến động tài sản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị đó” [14].
Luan van 8 Theo giáo trình “Nguyên lý kế toán” của các tác giả Phạm Thị Hoa, Nguyễn Thị Nhẫn, Học viện Ngân hàng (2010): Xét theo công việc (quá trình) của kế toán, có thể coi kế toán là quá trình thu thập số liệu, xử lý dữ liệu, cung cấp số liệu về các hoạt động kinh tế, tài chính diễn ra ở các đơn vị. Theo đó, thì kế toán bao gồm 3 công việc chủ yếu là: là thu thập dữ liệu thông qua điều tra, quan sát; xử lý dữ liệu bằng cách phân loại và tính toán thành các chỉ tiêu; cung cấp dữ liệu bằng các báo cáo [6]. Theo Luật Kế toán của Việt Nam (2015): Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động [12]. Theo đó, để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, kế toán cũng thực hiện các công việc: thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích, và cung cấp thông tin dưới các hình thức: giá trị (tiền), hiện vật và cả thời gian lao động.
Các khái niệm kế toán nêu trên, cho thấy được những nhận thức, quan niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau đều gắn kế toán với việc phục vụ công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự biến động của tài sản, các hoạt động kinh tế, tài chính trong các đơn vị nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kính tế, tài chính của đơn vị. Tóm lại, có thể hiểu kế toán là quá trình thu nhận, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin có liên quan đến các hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị để phục vụ cho các mục đích theo yêu cầu quản lý của đơn vị và các đối tượng. Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức, quản lý của các đơn vị.
Tổ chức tốt công tác kế toán phù hợp với tình hình hoạt động của đơn vị không chỉ tiết kiệm được chi phí mà còn đảm bảo Luan van 9 cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, có chất lượng đáp ứng các yêu cầu quản lý của các cấp. Giáo trình “Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp” của Học Viện tài chính (2011) có nêu: Tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của DN.Tổ chức công tác kế toán trong DN phải giải quyết được cả hai phương diện [13]: (1) Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, và các phương pháp, phương diện tính toán nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán. (2) Tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán. Như vậy: Tổ chức công tác kế toán một cách khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo kế toán thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ trong đơn vị, đáp ứng và thỏa mãn tốt được thông tin kinh tế tài chính của đơn vị cho các đối tượng quan tâm.
Giáo trình “Kế toán tài chính” của Học viện Tài chính (2013) nêu: Thực chất của việc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phương pháp khoa học của kế toán, phù hợp với chính sách chế độquản lý kinh tế quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế [5]. Vai trò của tổ chức kế toán trong doanh nghiệp Tổ chức kế toán đóng vai tròrất quan trọng trong tổ chức, thể hiện: - Là công cụ thiết yếu để phân tích, đánh giá, tham mưu cho lãnh đạo đưa ra các quyết định quản lý phù hợp; - Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình hình thành kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị. Luan van 10 - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi; Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư tài sản ở đơn vị; Kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước. - Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới.
- Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lýcấp trên và cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu; Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị.Nguyên tắc tổ chức kế toán trong doanh nghiệp Xuất phát từ vị trí của kế toán trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tổ chức kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất, phù hợp, tiết kiệm và hiệu quả. * Nguyên tắc thống nhất [1] - Thống nhất giữa các DN trong một hệ thống quản lý thống nhất: thống nhất giữa cấp trên và cấp dưới, thống nhất giữa các đơn vị trong một ngành, thống nhất giữa các ngành với nhau. - Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kếtoán và báo cáo tài chính với các chỉ tiêu quản lý. - Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên cáctài khoản kế toán.
- Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại DN về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính. -Thống nhất giữa chính các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chínhvới nhau. Luan van 11 -Thống nhất giữa bộ máy kế toán và bộ máy quản lý của DN trong mối quan hệ với bộ máy quản lý của ngành.
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức hệ thống kế toán nói chung không được tách rời hệ thống quản lý, phải gắn với nhu cầu thông tin cho quản lý, lấy quản lý làm đối tượng phục vụ. Nguyên tắc thống nhất được thực hiện sẽ đảm bảo tính nhất quán cao giữa các yếu tổ của tổ chức là cơ sở cho thông tin sẽ được cung cấp một cách nhịp nhàng theo một lôgic thống nhất từ khâu thông tin đầu vào trên các chứng từ kế toán đến khâu thông tin đầu ra trên các báo cáo tài chính, đặc biệt là sự thống nhất với cả hệ thống quản lý ngân sách nói chung của quốc gia. Ngoài ra khi vận dụng nguyên tắc này cũng sẽ tạo lập được nguồn thông tin ổn định phục vụ cho quản lý và phù hợp với yêu cầu quản lý. * Nguyên tắc phù hợp [1] Tổ chức kế toán một mặt phải tuân thủ khuôn khổ pháp lý chung nhưng cũng phải đảm bảo phù hợp trên các nội dung sau: Tổ chức kế toánphải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm và điều kiện hoạt động kinh doanh khác nhau.