đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lên hàng đầu. Mục đích của hoạt động quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp chính là hiệu quả sử dụng vốn, b i vì hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường. Để hiểu rõ phạm trù hiệu quả sử dụng vốn cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai khái niệm: hiệu quả và kết quả kinh doanh. Kết quả là những gì mà doanh nghiệp đã được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nhất định.
Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh có thể là những đại lượng cân, đong, đo, đếm được như số công trình hoàn thành sử dụng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,. Trong khi đó hiệu quả là một phạm trù được xác định bằng tỷ lệ giữa hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) hay phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà chỉ là một phạm trù tương đối, được phản ánh bằng số tương đối là: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực.
Chúng ta thường nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết quả và hao phí nguồn lực, b i vì chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối và chỉ phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực. Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn là một khái niệm rộng bao hàm cả mặt kinh tế, chính trị, xã hội, là thước đo tăng trư ng của mỗi doanh nghiệp, phản ánh trình độ và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn thường được thể hiện thông qua quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và gián tiếp thu được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Nếu coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu thì hiệu quả sử dụng vốn là một phương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó.
8 Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh một mặt của hiệu quả sản xuất kinh doanh, là thước đo trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa lợi ích thu được với tối tiểu hóa chi phí nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Về mặt lượng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động bỏ vốn đó mang lại với lượng vốn bỏ ra. Mối tương quan đó thường được biểu hiện bằng công thức: Dạng thuận: (1.1) Chỉ tiêu này dùng để xác định ảnh hư ng của hiệu quả sử dụng vốn đến kết quả kinh tế.2) Chỉ tiêu này là cơ s để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực. Về mặt định tính hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trình độ khai thác, quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh a doanh nghiệ Mục tiêu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của Công ty cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh. Để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải xem xét hiệu quả sử dụng vốn từng khâu, sử dụng nhiều chỉ tiêu để phân tích, đánh giá mức sinh lời của đồng vốn kinh doanh.1 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA) Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản (ROA).
Hệ số này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.3) Chỉ tiêu ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư. ROA trong các Công ty cổ phần có sự khác biệt và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh, đây là lý do khi nhà quản lý đặt câu hỏi tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các Công ty qua các năm tài chính. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ vốn vay và vốn chủ s hữu, cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA, ROA càng cao thì doanh nghiệp sinh lời nhiều hơn, chi phí đầu tư ít hơn.
mặt khác, các nhà đầu tư nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà doanh nghiệp phải trả cho các khoản vay nợ. nếu doanh nghiệp không tạo ra nhiều mức sinh lời trên tài sản, đó là dấu hiệu không tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là doanh nghiệp đang tạo ra một mức sinh lợi cho doanh nghiệp.2 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm. Hệ số này đo lường mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ s hữu trong kỳ.
Cách xác định như sau: ROE= (1.4) Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích luỹ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi ra quyết định đầu tư cổ phiếu của doanh nghiệp. Khi ROE càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng đồng vốn có hiệu quả, kết hợp hài hoà các loại nguồn vốn trong doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, m rộng quy mô, vì vậy khi hệ số ROE mà cao thì càng thu hút các nhà đầu tư. Khi tính toán ROE các nhà đầu tư có thể đánh giá các góc độ, như: ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu doanh nghiệp có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.
ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem doanh nghiệp đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để đánh giá doanh nghiệp này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.3 Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (BEP) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hư ng của nguồn vốn kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp. Cách xác định như sau: BEP = (1.5) Chỉ tiêu này có tác dụng rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi suất vay vốn để đánh giá việc sử dụng vốn vay có tác dụng tích cực hay tiêu cực đối với khả năng sinh lời của vốn chủ s hữu.4 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện, khi thực hiện một đồng doanh thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.6) Chỉ tiêu này cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý, tiết kiệm chi phí của một doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chi phí thì sẽ nâng cao được tỷ suất này.
Bên cạnh đó, tỷ suất này phụ thuộc lớn vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành xây dựng và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp xây dựng, việc thay đổi ROS còn có thể do doanh nghiệp điều chỉnh thay đổi cơ cấu sản phẩm tiêu thụ.5 Hệ số hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Nếu hiệu suất cao hơn mức trung bình của ngành là tốt, nếu thấp hơn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp thấp. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh= (1.
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp cuối mỗi niên độ kế toán. Khả năng thanh toán ngắn hạn= (1.8) Nếu hệ số thanh toán mà lớn hơn 1, phản ánh mức độ mà doanh nghiệp đảm bảo chi trả các khoản nợ là càng cao, rủi ro phá sản thấp, tình hình tài chính được đánh giá là tốt, nhưng nếu hệ số này quá cao thì không tốt, nó cho thấy sự dồi dào của doanh nghiệp trong việc thanh toán nhưng lại giảm hiệu quả sử dụng vốn do doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn và có thể dẫn đến tình hình tài chính xấu. Nếu hệ số thanh toán mà nhỏ hơn 1, phản ánh kh ả năng thanh toán của doanh nghiệp không tốt, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và các khoản nợ đến hạn phải trả. Nếu hệ số thanh toán mà bằng 0, phản ánh doanh nghiệp khó có khả năng chi trả được nợ, tình hình tài chính của doanh nghiệp đang gặp khó khăn và doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản.7 Hệ số khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh có thể được xác định theo công thức sau: Khả năng thanh toán nhanh= (1.9) Khả năng thanh toán nhanh thông thường biến động từ 0,5 đến 1, lúc đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đánh giá là khả quan. Ngoài ra, vì các khoản nợ của doanh nghiệp không tập trung thanh toán vào cùng một thời kỳ, nên tỷ suất thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 không có nghĩa là không an toàn, mà chỉ cần lượng tài sản lưu động lớn hơn những khoản nợ cần phải trả ngay trong kỳ gần nhất là có thể chứng tỏ tính an toàn được đảm bảo.8 Vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.