phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn có kết cấu 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về kế toán quản trị. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán tại Công ty Cổ Phần Nƣớc - Môi Trƣờng Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Tổ chức kế toán quản trị tại Công ty Cổ Phần Nƣớc - Môi Trƣờng Bình Dƣơng. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị.
Trên thế giới. Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển vào những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.Jacobsen viết trên báo London Economist tháng 6 năm 1960 thì ngƣời đầu tiên viết về Kế toán quản trị là nhà kinh doanh ngƣời Anh Thomas SutherLand (Viết năm 1875). Đến nửa cuối thế kỷ 19, Kế toán quản trị đƣợc áp dụng đầu tiên ở Anh và Bắc Mỹ trong ngành Dệt, Đƣờng sắt, sau đó đƣợc áp dụng vào ngành Thuốc lá, Luyện Kim, Hóa chất. Đến năm 1925, Kế toán quản trị đƣợc áp dụng vào hầu hết các ngành kinh tế.
Petty viết trong tác phẩm "Từ kế toán quản trị đến quản trị chiến lƣợc" quá trình phát triển của Kế toán quản trị chia là 4 giai đoạn cơ bản với các trọng tâm thông tin khác nhau: Giai đoạn 1: Từ năm 1950 - 1965: Nội dung trọng tâm của Kế toán quản trị ở giai đoạn này nhấn mạnh đến việc xác định chi phí và kiểm soát chi phí thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Đỉnh cao là vào năm 1920, ông Donaldson Brown, giám đốc tài chính của công ty Dupont đã giới thiệu công thức tính toán tỷ lệ ROI. Giai đoạn 2: Từ năm 1965 - 1985: Nội dung kế toán quản trị giai đoạn này là cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị thông qua việc sử dụng các kỹ thuật nhƣ phân tích các quyết định, thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý. Dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của kế toán quản trị là cuốn sách viết về kế toán quản trị đầu tiên của Robert Anthony đƣợc xuất bản năm 1956.
Sự quan tâm của kế toán quản trị ở giai đoạn này đã chuyển biến mạnh mẽ vào việc cung 9 cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật nhƣ phân tích để ra quyết định và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3: Từ năm 1985 - 1995: Trọng tâm kế toán quản trị ở giai đoạn này là nhấn mạnh đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực của Doanh nghiệp. Khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1995 đƣợc xem nhƣ giai đoạn mới của kế toán quản trị làm cho kế toán quản trị phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Kế toán quản trị tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và chuyển từ kế toán chi phí sang quản trị chi phí.
Giai đoạn 4: Từ năm 1995 đến nay: Từ năm 1995 đến nay, kế toán quản trị gắn liền với quản trị chiến lƣợc, nhấn mạnh đến việc tạo ra giá trị gia tăng thông qua việc gia tăng lợi ích cho khách hàng, cổ đông, sử dụng hiệu quả nguồn lực. Mục tiêu của kế toán quản trị ngày nay là tạo thêm giá trị cho đơn vị thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt nhất. Các giá trị bao gồm: Giá trị cho sản phẩm, dịch vụ của đơn vị phục vụ khách hàng Giá trị cho cổ phiếu của đơn vị trên thị trƣờng chứng khoán Để phục vụ cho các mục tiêu của nhà quản lý, kế toán quản trị hiện đại đã phát triển các công cụ và kỹ thuật ph hợp. Theo đó, các công cụ này bao gồm: công cụ hỗ trợ cho việc hiểu biết thị trƣờng; công cụ cho kế hoạch chiến lƣợc; công cụ đánh giá kết quả; công cụ quản lý và phát triển tri thức.
Nhƣ vậy, có thể thấy hiện nay kế toán quản trị kế toán quản trị có xu hƣớng hình thành, phát triển trƣớc trong những doanh nghiệp lớn có trình độ khoa học - kỹ thuật - quản trị tiên tiến, điều kiện cơ sở vật chất hiện đại (H. Cụ thể ở một số quốc gia nhƣ: Nhật, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan. Kế toán quản trị hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát triển tầm nhìn chiến lƣợc đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đáp ứng nền kinh tế tri thức và sự thay đổi năng động của thời đại. 10 Ở Việt Nam Trong quá trình hội nhập, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống dự toán ngân sách và quản trị chi phí.
Phƣơng pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bƣớc đầu còn đơn giản và thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tƣ nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới đƣợc phát triển rầm rộ. Sự ra đời của kế toán quản trị đƣợc đánh dấu khi Luật Kế toán Việt Nam đƣợc ban hành ngày 17/06/2003, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về kế toán quản trị ở các đơn vị nhƣ sau: Kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp họ đƣa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tƣơng lai ph hợp với chiến lƣợc kinh doanh. Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tƣ hƣớng dẫn về thực hiện kế toán quản trị tại trƣờng Đại học Kinh tế TP.
Có thể nói, đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nƣớc đối với việc thực hiện kế toán quản trị tại Việt Nam. Đến ngày 12/06/2006, Bộ tài chính ban hành thông tƣ số 53/2006/TT- BTC, hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức đƣợc ra đời nhằm hƣớng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện kế toán quản trị. Kế toán quản trị trong doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin, đƣợc hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng. Trong chƣơng này, để nghiên cứu những vấn đề tổng quan chúng ta bắt đầu từ việc xem xét bản chất của kế toán quản trị, qua đó nghiên cứu chức năng và vai trò cũng nhƣ đối tƣợng và phƣơng pháp của kế toán quản trị.2 Định nghĩa kế toán quản trị.
Có rất nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về kế toán quản trị khác nhau nhƣng tất cả đều thống nhất cùng một ý tƣởng là bộ phận kế toán hƣớng đến cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản lý ở doanh nghiệp thực hiện các chức năng nhƣ hoạch định, tổ chức 11 thực hiện, kiểm tra giám sát và ra quyết định quản lý. Một số định nghĩa về KTQT nhƣ sau: Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFCA) định nghĩa “Kế toán quản trị đƣợc xem nhƣ là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lƣờng, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của tổ chức cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của tổ chức" [29, tr 84]. Nhƣ vậy theo quan điểm này, kế toán quản trị đã đƣợc khái quát các nội dung, công việc cụ thể đồng thời là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị nhằm quản trị theo từng hoạt động cụ thể của đơn vị. Theo Hội các nhà kế toán quản trị (IMA) định nghĩa “Kế toán quản trị là công việc có sự kết hợp của việc ra quyết định, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và cung cấp các thông tin chuyên sâu về báo cáo tài chính nhằm giúp các nhà quản trị điều hành và thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh” [30, tr 8].
Theo quan điểm này, kế toán quản trị đã đƣợc khái quát theo các công việc cụ thể mà các nhà quản trị phải thực hiện với mục tiêu thực hiện và nâng cao hiệu quả của các hoạt động. Theo Burns, Quinn, Warren&Oliveira (2013) định nghĩa ngắn gọn: “Kế toán quản trị là một bộ phận trong tổ chức nhằm cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính trong quá trình ra quyết định của nhà quản lý” [28, tr 5]. Theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, dựa vào các thông tin đó các nhà quản lý đƣa ra quyết định điều hành các hoạt động trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Theo Luật Kế toán Việt Nam (2015) định nghĩa “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [22, điều 3].
Theo quan điểm này kế toán quản trị đƣợc khái quát các bƣớc công việc cụ thể đồng thời là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị nhằm đƣa ra các quyết định điều hành nội bộ các hoạt động kinh doanh. 12 Nói tóm lại, kế toán tài chính nhằm cung cấp những thông tin kinh tế tài chính định lƣợng đã xảy ra gắn liền với trách nhiệm vật chất – pháp lý của một tổ chức cho ngƣời sử dụng nhƣ: các nhà quản lý, các chủ sở hữu, nhà cung cấp cũng nhƣ ngƣời cho vay. Ngƣợc lại, kế toán quản trị cung cấp thông tin kinh tế - tài chính gắn liền với nhu cầu dự báo, đánh giá, kiểm soát và trách nhiệm trong việc điều hành tổ chức của nhà quản trị hƣớng đến việc ra quyết định trong tƣơng lai của doanh nghiệp.3 Mục tiêu của KTQT. Mục tiêu cơ bản của KTQT là cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản lý công ty.
Tùy theo nhu cầu của nhà quản lý, KTQT sẽ cung cấp các thông tin dƣới dạng khác nhau.