CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu liên quan đến hoạt động trải nghiệm và tổ chức hoạt động trải nghiệm * Trên thế giới Có nhiều tác giả nước ngoài đã nghiên cứu về vấn đề này như: John Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục xuất bản năm 1938 do Phạm Anh Tuấn dịch (Nxb Trẻ, 2011) đã có những phân tích sâu sắc về cả nền giáo dục truyền thống lẫn nền giáo dục hiện đại.
Ông đã chỉ ra những nhược điểm căn bản của nền giáo dục truyền thống mà nguyên nhân chủ yếu là do không vận dụng những nguyên tắc của triết học kinh nghiệm được phát triển thấu đáo. Tác giả đã làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm và mối quan hệ giữa kinh nghiệm và giáo dục, đã nêu quan điểm rằng việc học của HS phải đi từ trải nghiệm của chúng, mọi thứ đều do từng cá nhân người học tự mình tìm ra. HS tự mình trải nghiệm thì mới tìm ra giá trị điều chúng trải nghiệm. Trong một tác phẩm khác với tựa đề John Dewey về giáo dục xuất bản năm 1964 do Phạm Anh Tuấn dịch (Nxb Trẻ, 2012), tập hợp những tác phẩm quan trọng của tác giả John Dewey về giáo dục và những phát biểu của ông về lập trường triết học có liên quan tới việc lý giải các quan điểm giáo dục.
Trong đó, tác giả khẳng định quan điểm: Dạy học nếu được hiểu đúng, nó không thể được coi là sự truyền đạt. Người thầy nên là một tác nhân kích thích người học, bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối, thông tin, gợi ý, sự làm rõ - có thể tạo ra môi trường khuyến khích sự học tập. Không có sự tách rời giữa giáo dục và cuộc sống, cho nên phương pháp giảng dạy thực sự phải bằng kinh nghiệm và quan sát thực tế. Phương tiện tổng lực của dạy học phải tập trung vào những vấn đề sống động, có ý nghĩa quan trọng để đòi hỏi HS phải vật lộn giải quyết.
HS liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động và các em thực sự cộng tác để lên kế hoạch cho chương trìnhh học. Tsunesaburo Makiguchi với tác phẩm Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo (Nxb Trẻ, 2009) đã thể hiện tư tưởng tiến bộ trong phát triển giáo dục. Theo ông: Thứ nhất, giáo dục phải xuất phát từ thực tiễn hàng ngày của nhân dân; Thứ hai, xây dựng hạnh 8 luan an phúc thông qua sự phát triển ở mỗi cá nhân một ý thức xã hội và ý thức đó được xây dựng từ trên ghế nhà trường; Thứ ba, tinh hoa của nhân tính là tính sáng tạo và con người phải biểu lộ tính sáng tạo trong hành vi của mình; Thứ tư, mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và giao trách nhiệm học tập vào tay HS, giáo dục chú trọng vào quá trình hướng dẫn HS tự học; Thứ năm, giáo dục phải trở thành một khoa học; Thứ sáu, nền giáo dục hiệu quả phải được chia sẻ trách nhiệm từ cả ba phía: nhà trường, gia đình, cộng đồng. Đối với việc học của HS, tác giả đã khẳng định không có điều gì mà người học phải nhắm mắt tin mù quáng.
Thực chứng luận nói rằng chúng ta phải đem những thực tế hàng ngày trước mắt chúng ta vào học tập như những tri thức tạm chấp nhận rồi dùng con dao mổ thận trọng của nhà khoa học để rút từ đấy ra một lý thuyết giáo dục. Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ XX, Makiguchi đã thể hiện mong muốn xây dựng một nền giáo dục phổ quát, gắn liền với thực tiễn, mang tính khoa học cao, học tập chú trọng đến HĐTN, thông qua HĐTN để thực hiện phép thử, qua đó loại bỏ đi những thứ không phù hợp, rút ra các bài học cho bản thân. Jacques Delo với Học tập một kho báu tiềm ẩn: Báo cáo gửi UNESCO của Hội đồng quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, đã hình thành ý tưởng xây dựng xã hội học tập trong đó học tập suốt đời là nội dung xuyên suốt của nền giáo dục hiện đại để đáp ứng kịp thời với sự phát triển nhanh chóng của thế giới, nêu lên bốn trụ cột của giáo dục là: Học để biết; học để làm; học để chung sống; học để tồn tại. Như vậy, mục tiêu này hướng tới việc giáo dục HS sáng tạo, phát huy các năng lực ẩn náu, biết vận dụng tri thức vào cuộc sống thực tiễn và từ thực tiễn rút ra những bài học cho bản thân để hòa nhập, chung sống và phát triển.
Tư tưởng của John Locke về giáo dục được tổng hợp rõ nét trong tác phẩm Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới (UNESCO, 2008). Ông đặt ra câu hỏi: “Vậy tri thức có được bằng cách nào? Và bằng cách nào con người có thể tiến tới đồng nhất quan điểm phổ biến? Trả lời câu hỏi này chỉ cần gói gọn trong một từ là trải nghiệm”. Tuy nhiên trải nghiệm, cái đạt được thông qua các giác quan, tự nó lại chưa đủ để hình thành nên tri thức. Để có được tri thức cũng cần phải có một trung gian chủ động đó là “trí tuệ con người trước những trải nghiệm đó”.
Julius Kambarage Nyerere -Tổng thống và là người sáng lập ra nước Cộng hòa thống nhất Tazzania, tác giả của cuốn Giáo dục vì sự tự chủ đã đề xuất: GV và HS nên cùng tham gia vào các hoạt động sản xuất. HS nên tham gia vào các quá trình lập kế 9 luan an hoạch và ra quyết định để thực hiện những hoạt động này. Sản xuất nên trở thành một phần trong chương trình dạy học và mang lại những kinh nghiệm học tập bổ ích qua việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Al - Qabbani, nhà giáo dục Ai Cập cũng đã khẳng định tư tưởng giáo dục là: Kiến thức giáo dục phải thực tế đặt trẻ vào những tình huống phải đối mặt với những vấn đề của đời sống, giúp trẻ nhận thức và giải quyết tốt vấn đề đó.
Sử dụng PPDH theo nguyên tắc “học đi đôi với hành” và cải biến toàn bộ môi trường thành nơi học tập, tăng khả năng quan sát, nhận thức, phân tích và đánh giá. Qua những tác phẩm trên, các tác giả đã đưa ra các luận chứng về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập gắn liền với thực tế đời sống xã hội. HS sử dụng tri thức đã được học để giải quyết vấn đề được đặt ra trong đời sống và cũng từ đời sống mà người học rút ra bài học cho bản thân. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề xuất được các nguyên tắc, quy trình thực hiện đa dạng hóa hoạt động của HS.
Trên cơ sở hoạt động học tập trải nghiệm trong các tác phẩm của John Dewey, Kurt Lewin và Jean Piaget, Kolb, D. (1984) với Experiential learning: Experience as the source of learning and development, Englewood Cliffs, N. J: Prentice - Hall đã mô tả toàn diện và có hệ thống về quá trình học tập trải nghiệm. Tác giả đề xuất một mô hình cấu trúc cơ bản của quá trình học tập trải nghiệm dựa trên những nghiên cứu tâm lí học, triết học và sinh lí học cũng như căn cứ vào kiểu hình học cá nhân và cấu trúc kiến thức tương ứng trong các môn học và nghề nghiệp khác nhau.
Shane Robinson, David A. Kolb trong “Aligning Kolb’s Experiential Learning Theory with a Comprehensive Agricultural Education Model”, Journal of Agricultural Education, Volume 53, Number 4., đã đề cập và phân tích về lí thuyết học tập trải nghiệm của Kolb với 6 nguyên tắc cụ thể. Đồng thời, trên cơ sở phân tích các cuộc phỏng vấn cho thấy học tập trải nghiệm là một thành tố quan trọng của mô hình giáo dục toàn diện (tức là mô hình ba vòng tròn). Trong đó, tác giả lý giải học tập trải nghiệm tạo ra các kĩ năng siêu nhận thức và với những định hướng về mục tiêu và đánh giá.
Trong Experiential Learning: Experience as the Source of Learning and Development của Kolb (1984) khẳng định rằng “Học tập là quá trình tạo ra kiến thức thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm” (trang 38). Kolb đưa ra sáu đề xuất làm nền tảng cho lí thuyết học tập trải nghiệm. Thứ nhất, học tập được xem xét như là một quá trình chứ không phải là một sản phẩm. Để cải thiện việc học, cần tập trung vào việc 10 luan an thu hút và tạo điều kiện học tập tối ưu cho HS trong suốt quá trình.
Điều này bao gồm việc cung cấp phản hồi về hiệu quả của nỗ lực học tập của HS. Tiếp theo, tất cả các bài học phải được học lại. Niềm tin và ý tưởng của một HS về chủ đề phải được xem xét để chúng có thể được rút ra, thử nghiệm, kiểm tra và tích hợp vào các khái niệm mới. Thứ ba, việc học đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn giữa các phương thức phản đối biện chứng đối với thế giới.
Xung đột, bất hòa và bất đồng định hướng cho việc học tập. Trong quá trình học tập, mỗi cá nhân vận động qua lại giữa các phương thức phản đối và hành động phản đối. Thứ tư, học tập là một quá trình toàn diện để thích nghi với thế giới bao hàm những nhận thức đơn giản. Học tập liên quan toàn diện đến mỗi cá nhân bao gồm cả suy nghĩ, cảm giác, nhận thức và cư xử.
Thứ năm, học tập tạo nên kết quả từ các sự kết hợp giữa người học và kinh nghiệm của họ. Theo Piaget (1971), việc học tập xảy ra thông qua cân bằng các quy trình biện chứng để thuần thục các trải nghiệm mới vào các khái niệm hiện có phù hợp với các khái niệm hiện tại thành những trải nghiệm mới. Cuối cùng, học tập là quá trình tạo ra tri thức. Cách tiếp cận này phản đối phần lớn các hoạt động giáo dục ngày nay, bao gồm việc truyền tải những ý tưởng đã được định hình trước đó.
Kolb (2015) trong Experience as the Source of Learning and Development, Second Edition của Pearson Education, Inc, USA, với dung lượng gần 400 trang gồm ba phần, đã phân tích một bức tranh toàn cảnh về trải nghiệm - nguồn gốc của việc học tập và phát triển. Đặc biệt, trong đó, tác giả đã dành hẳn Chương 2 để phân tích về quá trình học tập trải nghiệm, từ 3 mô hình học tập trải nghiệm cho đến đặc điểm của quá trình này. Kolb đã cụ thể hóa quá trình học trải nghiệm thông qua việc xây dựng một mô hình, chỉ ra đặc điểm cụ thể của học tập trải nghiệm.