Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ ch c hoạt động GD-LSVH cho ĐV, SV các trường ĐH, CĐ. Chương 2: Thực trạng tổ ch c hoạt động GD-LSVH cho ĐV, SV các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Chương 3: Biện pháp tổ ch c hoạt động GD-LSVH cho ĐV, SV các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO ĐOÀN VIÊN, SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lối sống của cá nhân và tổ ch c trong xã hội là chủ đề luôn được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên c u trong nước, bởi lẽ lối sống của cá nhân, tập thể ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là lối sống của ĐV, SV. Lối sống của ĐV, SV luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, chỉ đạo bằng văn bản trong những quy định, nghị định nhằm hướng tới xây dựng một lớp thanh niên Việt Nam có lối sống lành mạnh, là lực lượng lao động tương lai cho sự phồn vinh của đất nước. Thiết nghĩ, đất nước phát triển theo hướng tích cực, hay tiêu cực phụ thuộc rất lớn vào lối sống văn hóa lành mạnh hay lối sống buông thả, nhiễm thói hư tật xấu của thanh niên Việt Nam, cũng như của tất cả cá nhân trong xã hội. Do đó, nhiều công trình nghiên c u đã đi sâu phân tích về lối sống, trong đó có lối sống của ĐV, SV.
Chẳng hạn như, tác giả Thanh Lê đã viết sách “Văn hóa và lối sống” hoặc tác giả Huỳnh Khái Vinh đã viết sách “Một số v n đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” [36] bàn luận các vấn đề liên quan đến lối sống, hệ thống hóa các giá trị sống tốt đẹp của dân tộc ta, từ đó đề xuất một chuẩn giá trị lối sống cho xã hội, đánh giá ảnh hưởng của lối sống theo chuẩn giá trị này lên sự phát triển văn hóa, đất nước, cũng như phân tích ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài tác động lên sự hình thành lối sống (kinh tế, chính trị, xã hội). Thêm nữa, nhiều công trình nghiên c u đã khai thác đa khía cạnh của lối sống, ở phạm vi đất nước, phạm vi địa phương, phạm vi trường học, đại học. Chẳng hạn như sách “Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời k đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đ t nước” do tác giả Nguyễn Viết Ch c (chủ biên) bàn về vấn đề phát triển lối sống văn hóa ở Hà Nội; hay cuốn sách “Giáo d c lối sống - nếp sống mới” do Thanh Lê (chủ biên) bàn về việc xây dựng lối sống văn hóa ở đô thị ở TP Hồ Chí Minh; hoặc sách “Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại” bàn về lối sống đô thị, lối sống trong gia đình. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, nhiều bài viết cũng đã phân tích sự ảnh hưởng của hội nhập đến việc thay đổi lối sống, tuy nhiên việc xây dựng lối sống mới luôn dựa trên việc phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, từ đó mở rộng thêm những giá trị hiện đại phù hợp.
Chẳng hạn như luận văn: “Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến việc xây dựng lối sống ở nước ta hiện nay” của Võ Văn Thắng; hoặc sách “Lối sống dân tộc, hiện đại. M y v n đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đỗ Huy đã phân tích các yếu tố tác động (tiêu cực và tích cực) của sự hội nhập đến sự hình thành lối sống của người Việt Nam trong thời đại mới, từ đó nhấn mạnh việc cần thiết phải thay đổi lối sống theo hướng “dân tộc - hiện đại xã hội chủ nghĩa”. Bàn về lối sống của đoàn viên, sinh viên, tác giả Lưu Minh Văn và Trần Văn Kham trong cuốn sách “Giá trị trong lối sống của sinh viên Việt Nam hiện nay: thực trạng và xu hướng” cũng đã trình bày cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c u xây dựng giá trị trong lối sống sinh viên; những điểm mạnh và hạn chế của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực. Một số đề tài khoa học, luận văn thạc sỹ, tài liệu hội thảo khoa học cũng đề cập đến vấn đề lối sống sinh viên như: “Xây dựng lối sống có văn hóa của h c viên ở các trường đào tạo sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam” của Vũ Đình Bắc, “Những iến đổi lệch lạc trong đạo đức, lối sống của h c sinh sinh viên hiện nay - thực trạng và các giải pháp chủ yếu” của Lê Thị Bích Hồng, hay đề tài “Đặc đi m tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà.
Các đề tài nghiên c u này luôn nhấn mạnh việc cần thiết phải xây dựng lối sống văn hóa cho học sinh, sinh viên dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo dục, hoạt động giáo dục, tổ chức Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến th c, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên c u để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân [24]. Giáo dục có thể hiểu là quá trình tác động tích cực để hình thành và phát triển nhân cách của một người, trong đó quan trọng hơn hết là sự tác động từ 03 chủ thể: gia đình, nhà trường, xã hội.
Các yếu tố từ gia đình tác động tới giáo dục như: văn hóa gia đình, cách dạy bảo của ông bà cha mẹ, môi trường ng xử trong gia đình, cách giao tiếp giữa anh chị em trong gia đình; Yếu tố nhà trường như: nền sư phạm của đất nước, chủ trương giáo dục của Đảng và Bộ GD&ĐT, văn hóa học đường, kiến th c và đạo đ c của thầy cô giáo, các hoạt động nội khóa hoặc ngoại khóa do nhà trường hoặc các ban, đoàn thể liên quan tổ ch c…; Ảnh hưởng do xã hội có thể từ những yếu tố như: bạn bè, văn hóa phẩm, mạng internet, lối sống chung của xã hội, của cộng đồng. Sự tổng hòa của các tác động trên góp phần hoàn thiện tri th c, đạo đ c, thẩm mỹ, từ đó hình thành nhân cách của con người. Giáo dục là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất của văn hóa. Có con người là đã có giáo dục.
Giáo dục chính là quá trình, cách th c làm bộc lộ những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục. Trong tập thơ chữ Hán “Nhật ký trong tù”, ở bài số 100, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên vai trò rất lớn của giáo dục (Nam Trân dịch): Nửa đêm Ngủ th ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo d c mà nên Như trên đã nói, cắt lát ra cũng chỉ là tương đối mà thôi. Một đoàn viên thanh niên, sinh viên đúng nghĩa “thành người” (theo nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào Sổ truyền thống của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương năm 1949 là: “H c đ làm việc, làm người, làm cán ộ…” và theo 4 trụ cột giáo dục của UNESCO công bố trong Báo cáo Delos năm 1996: Học để biết; Học để làm việc; Học để chung sống với nhau; Học để làm người) là kết quả của cả giáo dục trên 03 không gian (cũng tương đối): gia đình, nhà trường, xã hội (trong không gian “xã 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội” có tổ ch c Đoàn Thanh niên); cũng là kết quả giáo dục từ luật pháp, văn hóa cộng với giáo dục. Một thanh niên nghiện ma túy, muốn cải tạo cho anh ta thành người bình thường, ngoài việc lên lớp và anh ta tự học, còn phải dùng giáo dục bằng luật pháp và các biện pháp khác về lối sống đạo đ c, lối sống có văn hóa.
Lệch và chuyên về một mặt nào đều không đem lại kết quả tốt. Hoạt động giáo dục là hệ thống những hoạt động nhằm tác động giáo dục có mục đích, có tổ ch c một cách khoa học, có kế hoạch, phương pháp và nội dung được kiểm duyệt và do cơ quan giáo dục chuyên biệt phụ trách. Hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho đối tượng được giáo dục [24]. Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp (nội khóa) và hoạt động ngoài lớp (ngoại khóa).
Hoạt động giáo dục trên lớp được thực hiện qua những môn học trong trường; trong khi hoạt động ngoài lớp được thực hiện qua những hoạt động ngoại khóa như: tọa đàm, hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao, mùa hè xanh, tiếp s c mùa thi, cắm trại. Các hoạt động giáo dục nhằm đào tạo nhân lực cho xã hội, góp phần phát triển xã hội. Hoạt động giáo dục được quy định bởi yêu cầu của xã hội, tùy theo định hướng ưu tiên của xã hội mà được thiết kế phù hợp. Các đơn vị tham gia vào hoạt động giáo dục, như sau: Ch thể giáo dục là những cung cấp, thực hành hoạt động giáo dục.
Nhiệm vụ của nhóm chủ thể này là quan sát, điều chỉnh, điều khiển và định hướng đối tượng giáo dục, nhằm giúp đối tượng giáo dục phát triển toàn diện về văn hóa, đạo đ c, kiến th c theo quy chuẩn của một hình thái xã hội. Trong các trường đại học, lực lượng này là giảng viên, Ban Giám hiệu, các tổ ch c Đoàn trong trường liên quan đến công tác sinh viên, như phòng Công tác Chính trị sinh viên, Đoàn trường, Hội sinh viên, Công đoàn. Đối tượng giáo dục là những người nhận giáo dục từ chủ thể giáo dục, vừa là chủ thể giáo dục do quá trình tự rèn luyện mình trong thời gian không chịu tác động của chủ thể giáo dục là nhà trường. Sự phát triển của một đối tượng giáo dục là kết quả kết hợp giữa sự tác động giáo dục của nhà trường và sự tự rèn luyện.