CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 1.1 Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước đây, các học giả và nhà nghiên cứu trong nước đều cơ bản thống nhất khái niệm về PBGDPL. Đây là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”. Phổ biến: Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông quan hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người biết đến".
Từ định nghĩa trên, có thể thấy phổ biến pháp luật là cách thức đưa thông tin để đối tượng biết nhằm mục đích tác động đến hành vi. Ở góc độ xã hội, phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để giai cấp thống trị duy trì quyền lực và lợi ích. Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu đầy đủ nội hàm các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế.
Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn, trao đổi, qua các phương tiện truyền thông. Giáo dục: Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng 9 cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội". So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm và truyền đạt thông tin, song nội dung rộng hơn, yêu cầu về mức độ am hiểu của đối tượng tác động cao hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục tiêu là giúp đối tượng nhận thức đúng bản chất, từ đó tạo ý thức và chuyển hóa thành hành động một cách tự giác. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể.
Theo sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật thì: “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng”. Theo đó, GDPL là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm GDPL: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành. Như vậy, PBGDPL hiểu theo nghĩa rộng là là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế 10 hoạch PBGDPL).
Hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành. Trong khái niệm giáo dục pháp luật nói chung nêu trên, đối với từng nhóm đối tượng sẽ có hình thức giáo dục khác nhau như: giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức; giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số; giáo dục pháp luật cho công nhân, cho học sinh, sinh viên; giáo dục pháp luật cho nông dân… Mỗi một đối tượng giáo dục pháp luật có chủ thể giáo dục pháp luật, có nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật đặc trưng riêng, phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động GDPL là một trong 4 mảng nội dung chính trong công tác giáo dục của Đoàn. Mục đích cuối cùng của công tác GDPL của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là xây dựng hành vi người đoàn viên, thanh niên phù hợp với pháp luật hiện hành do Nhà nước ban hành.
Do đó, GDPL của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với những hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên thanh niên một cách có hệ thống nhằm hình thành tri thức, ý thức, tình cảm, niềm tin với pháp luật. Theo Từ điển Tiếng Việt: "Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành". Khái niệm “thanh niên” là dùng để chỉ một lớp người trong xã hội ở một độ tuổi xác định, đang phát triển về cả thể chất, tinh thần và tư duy, lý tưởng. Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng bị chi phối bởi những mối quan hệ giai cấp, quan hệ xã hội, lối sống của cộng đồng trong xã hội.
Bởi vậy, thanh niên đóng vai trò không nhỏ trong xã hội. Thanh niên là nguồn nhân lực có vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là một trong những yếu tố chủ chốt đối với tương lai của cả quốc gia, 11 lực lượng này phải trải qua nhiều gian nan, vất vả về cả vật chất và tinh thần để rèn luyện, công hiến và trưởng thành, từ đó đóng góp một phần không nhỏ đối với vận mệnh đất nước. Xét từ góc độ pháp lý, Luật Thanh niên được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006 quy định như sau: (Điều 1 Luật Thanh niên) “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Như vậy, khái niệm thanh niên dùng để chỉ một lớp người trong xã hội với độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi, đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp về nhận thức cũng như tư duy, là lực lượng có vai trò không thể thiếu đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh.trong đời sống xã hội.
Với đặc thù lứa tuổi, ở nước ta có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên. Tuy nhiên, cùng với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho rằng thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên. Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30.
Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi. Như vậy, ở nước ta tuổi thanh niên hiện nay là từ 16 tuổi - 30 tuổi. Tùy theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp, người ta chia thanh niên thành các nhóm đối tượng khác nhau: thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên tri thức, thanh niên các lực lượng vũ trang… Đây là lực lượng xã hội đông đảo, trẻ, khỏe, đang cần được giáo dục, đào tạo để phát triển toàn diện. 12 Từ những phân tích trên đây, PBGDPL cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có thể hiểu một cách khái quát là: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm tác động đến thanh niên, hình thành ở thanh niên tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh niên, có hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.2 Đặc điểm phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Thứ nhất, về đối tượng trong giáo dục pháp luật cho thanh niên là những cá nhân thanh niên, nhóm thanh niên Việt Nam.
Đối tượng trong giáo dục pháp luật cho thanh niên cũng giống như đối tượng trong giáo dục pháp luật nói chung, đồng thời, thanh niên có những đặc điểm riêng về tâm lý, lứa tuổi, suy nghĩ và hành động, là những người trẻ về tuổi đời, có tư duy năng động, nhạy bén với cái mới, tích cực tham gia các hoạt động tập thể… Tuy vậy, thanh niên là những người mà vốn sống, vốn hiểu biết xã hội còn ở mức độ nhất định vì chưa tham gia nhiều vào các hoạt động quản lý và các hoạt động pháp luật thực tiễn, nhất là đối với thanh niên là học sinh, sinh viên trong nhà trường, thanh niên là người dân tộc thiểu số khu vực nông thôn, miền núi, do đó cần quan tâm giáo dục pháp luật cho họ. Trong khi đó, thanh niên có nhiều mối quan hệ đa dạng, đặt trong nhiều tình huống đòi hỏi phải có cách ứng xử phù hợp với yêu cầu xã hội và pháp luật. Vì vậy, những quan điểm, lối sống và chuẩn mực hành vi cần được giáo dục để định hình và phát triển ổn định. Mặt khác, thanh niên chuẩn bị bước vào cuộc sống gia đình, làm cha làm mẹ, rất cần những hiểu biết pháp luật để giáo dục con cái trở thành những công dân tốt cho xã hội trong tương lai.