MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đất nước ta đang trong giai đoạn từng bước, từng khâu ứng dụng CNTT trong công tác quản lí và điều hành từ trung ương đến địa phương, từ các tập đoàn kinh tế đến các DN vừa và nhỏ. Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước. Đối với các DN SXKD, muốn tăng cường khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế để tồn tại và phát triển, nhất thiết phải biết tận dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật và trước hết là thành tựu của CNTT trong quản lí và sản xuất.
Trong các hệ thống nói chung và các DN nói riêng, việc ứng dụng CNTT thường được bắt đầu từ khâu quản lí và quan trọng nhất là quản lí tài chính dựa trên các thông tin được cung cấp bởi hệ HTTT KT. Muốn vậy, DN cần được trang bị một cách hệ thống và đầy đủ những nhận thức về việc tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT. Trong công cuộc cải cách hành chính ở nước ta, Chính phủ điện tử sẽ chính thức được công nhận với đầy đủ tư cách pháp lí. Việc hoàn thiện tổ chức HTTT KT DN trong điều kiện ứng dụng CNTT, về mặt lí luận, sẽ đóng góp thêm cho kho tàng lí luận về khoa học tổ chức HTTT quản lí mới được hình thành trên thế giới và ở Việt nam; Về mặt thực tiễn, sẽ góp phần nhanh chóng đưa các DN hoà chung với mô hình chính phủ điện tử.
Đối với các DN SXKD hiện nay ở nước ta, việc tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT còn tùy tiện, ngẫu hứng do nhận thức chưa đầy đủ về tổ chức HTTT và CNTT. Khi phát triển HTTT KT, DN thường chỉ phát triển ở một vài khâu, một vài thành phần của hệ thống theo cảm tính mà chưa có một giải pháp đồng bộ, chỉnh thể để HTTT phát huy hiệu quả đầy đủ các đặc tính ưu việt vốn có của CNTT. Việc tổ chức HTTT KT tốt trong điều kiện ứng dụng CNTT sẽ cho phép cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông 1 tin kế toán, góp phần quản trị DN ngày càng hiệu quả hơn cả về chi phí và chất lượng. Việc nghiên cứu tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT sẽ trang bị cho các DN những kiến thức cần thiết khi phát triển hệ thống của mình để xây dựng HTTT KT mới theo chuẩn hoặc cải tạo nhanh HTTT KT đã có tại DN.
Tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT cũng đòi hỏi DN phải có những đối sách thích hợp để tăng cường nhận thức và trình độ của cán bộ quản lí và nhân viên, nhằm tiến tới một xã hội công nghiệp, hiện đại. Như vậy, về mặt lí luận, từ HTTT KT thủ công hoặc thủ công có trợ giúp của PMKT, chuyển sang ứng dụng CNTT trong toàn hệ thống, quá trình tổ chức HTTT KT cần được nghiên cứu để cải tiến và hoàn thiện; Về mặt thực tiễn, trong điều kiện ứng dụng CNTT, việc nghiên cứu vấn đề tổ chức HTTT KT có ý nghĩa thiết thực và cấp bách đối với các DN SXKD. Nhận thức được những vấn đề trên, cùng với sự định hướng của các nhà khoa học hướng dẫn, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án: “Tổ chức Hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin”. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tổng quát là: Cung cấp một hệ thống nhận thức đầy đủ, chỉnh thể về tổ chức HTTT KT trong DN SXKD trong điều kiện ứng dụng CNTT.
Các mục tiêu cụ thể như sau: - Tổng quát hóa các vấn đề có tính lí luận và thực tiễn về tổ chức HTTT KT trong DN SXKD trong điều kiện ứng dụng CNTT; - Đưa ra giải pháp hoàn thiện tổ chức HTTT KT trong DN SXKD ở Việt Nam trong điều kiện ứng dụng CNTT. 2 Trong tương lai, để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, tác giả luận án sẽ tiếp cận theo hướng tích hợp HTTT KT với các HTTT khác trong DN để hình thành một giải pháp quản lí tổng thể trong quản lí và điều hành DN. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của luận án là tổ chức HTTT KT trong DN SXKD trong điều kiện ứng dụng CNTT. Dựa trên cơ sở lí luận và khảo sát những vấn đề thực tiễn về tổ chức HTTT KT trong DN SXKD ở nước ta, luận án phân tích và đánh giá thực trạng, làm rõ những vấn đề về hoàn thiện tổ chức HTTT KT trong DN SXKD trong điều kiện ứng dụng CNTT.
Trong luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc tổ chức HTTT KT trong DN SXKD chưa sử dụng phần mềm giải pháp tổng thể ERP; Luận án cũng không nghiên cứu các DN áp dụng chế độ kế toán đặc thù, như: Ngân hàng, DN tài chính, Tập đoàn bưu chính viễn thông, .; Luận án chỉ đi sâu nghiên cứu HTTT kế toán tài chính, không nghiên cứu HTTT KT quản trị. Luận án cũng không nghiên cứu các HTTT KT thủ công, không nghiên cứu các thuật toán, chương trình cụ thể trong xây dựng PMKT cho HTTT KT trong DN SXKD mà chỉ đưa ra các giải pháp tổ chức hệ thống. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC a. Tổng quan nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về tổ chức HTTT kế toán trong DN SXKD trong điều kiện ứng dụng CNTT bao gồm: Giáo trình và sách chuyên khảo; Các đề tài nghiên cứu là luận án tiến sĩ, thạc sĩ và các bài báo, đề tài khoa học về vấn đề này.
Cụ thể như sau: • Các công trình nghiên cứu là giáo trình và sách chuyên khảo Trong danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến “Tổ chức HTTT kế toán trong DN SXKD”, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: 3 “Giáo trình HTTT quản lí” (2000) của Trường đại học Kinh tế Quốc dân; “Giáo trình HTTT Kế toán” (2004) của trường đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh; "Giáo trình Tổ chức công tác kế toán" (2013) của Học viện Tài chính; “Hệ thống thông tin quản lí” (2007) của Học viện Tài chính; Cuốn "Hệ thống thông tin kế toán" của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011), NXB Tài chính; Cuốn "Hệ thống thông tin kế toán" (2014) của các tác giả Thiều Thị Tâm, Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Quang Huy, Phan Đức Dũng (2014), NXB Thống kê. Về cơ bản, các công trình đều tập trung vào hai vấn đề chính: Tổng quan về hệ thống thông tin quản lí nói chung và hệ thống thông tin kế toán nói riêng; Phát triển hệ thống thông tin quản lí (kế toán) trong DN. Nói chung, việc nghiên cứu về “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán” ở nước ta đã đi chậm hơn các nước phát triển một bước khá dài.
Các tài liệu, giáo trình và công trình nghiên cứu về vấn đề này thường được tiếp cận theo hướng của các nước phát triển, như: Mỹ, Anh, Canada, Auxtralia,. nên tương đối đồng nhất về nội dung. Cụ thể, bao gồm các vấn đề sau đây: Một là, về khái niệm, đặc điểm của HTTT kế toán DN. Các công trình đều đưa ra khái niệm về HTTT kế toán: “Là hệ thống thu thập, lưu trữ, xử lí và cung cấp thông tin kế toán trong DN”.
Tùy theo mục mục tiêu cung cấp thông tin phục vụ cho các tổ chức bên ngoài hay trong nội bộ DN mà HTTT kế toán bao gồm: - HTTT KT tài chính: Thông tin này được thu thập, lưu trữ và xử lí theo các quy định, chế độ, nguyên tắc và chuẩn mực kế toán hiện hành để cung cấp thông tin tài chính chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài DN sử dụng. - HTTT KT quản trị: Hệ thống này cung cấp các thông tin kế toán với mục đích quản trị và điều hành trong nội bộ DN để dự báo các sự kiện kinh tế 4 sẽ xảy ra cùng với các ảnh hưởng tài chính của chúng đối với DN cũng như quản trị thực hiện mục tiêu tài chính của đơn vị. Hai là, về các thành phần của HTTT kế toán trong DN. Theo nhóm tác giả ở Học viện Tài chính, tác giả Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh, tác giả Thiều Thị Tâm và đồng sự: Các HTTT kế toán đều thuộc loại hệ thống mở, có mục đích, sử dụng chu trình IPO (Input- Processing-Output); Cách nhìn nhận này xuất phát từ quá trình vận hành HTTT.
Vì thế, HTTT kế toán bao gồm tối thiểu ba thành phần: Con người, Thủ tục và Dữ liệu, trong đó con người thực hiện theo các thủ tục kế toán để biến đổi dữ liệu kế toán nhằm tạo ra thông tin để cung cấp cho người dùng. Khi HTTT kế toán ứng dụng CNTT sẽ bao gồm 5 thành phần, đó là: Con người, Dữ liệu, Thủ tục, Phần cứng và Phần mềm. Trong đó: Phần cứng bao gồm các hệ thống máy tính, mạng máy tính và các thiết bị ngoại vi; Dữ liệu là các thông tin kế toán thu thập được lưu trữ theo một phương thức nhất định trên máy tính; Thủ tục là tập hợp các chỉ dẫn dựa trên các quy định, quy tắc, chế độ và chuẩn mực kế toán hiện hành và được thực hiện theo trình tự nhất định. Thủ tục ở đây bao gồm tất cả các yêu cầu phải thực hiện từ việc: Lựa chọn hình thức sổ kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, việc lập chứng từ và tổ chức luân chuyển chứng từ, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán, .; Phần mềm là một tập hợp các mệnh lệnh viết cho máy tính để yêu cầu máy tính thực hiện thủ tục kế toán thay con người.
Con người bao gồm tập hợp các nhân viên kế toán với tư cách chủ động vận hành hệ thống. Các nhân viên kế toán thường được chia thành các nhóm theo chức năng nhiệm vụ kế toán trong DN, bao gồm: Kế toán tổng hợp; Kế toán bán hàng và nợ phải thu; Kế toán mua hàng và nợ phải trả; Kế toán vốn bằng tiền; Kế toán hàng tồn kho; Kế toán thuế và các khoản phải nộp khác; Kế toán chi phí, giá thành; Kế toán tiền lương; Kế toán tài sản cố định.