CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái quát về kế toán quản trị: 1. Quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị: 1. Trên thế giới: Kế toán quản trị bắt nguồn từ kế toán chi phí, ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.
Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn. Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và pham vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này. Yêu cầu cấp bách được đặt ra đối với nhà quản trị là làm sao có thể kiểm soát và đánh giá được những hoạt động đã diễn ra trong doanh nghiệp. Lúc này, nhiệm vụ chính của kế toán chi phí là cung cấp thông tin về tình hình chi phí để phục vụ cho việc kiểm soát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Một số các ngành nghề như dệt, đường sắt, luyện kim, dầu khí là những lĩnh vực ứng dụng kế toán chi phí sớm nhất. Sau đó, kế toán chi phí ngày càng trở nên quan trọng hơn cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới. Kế toán chi phí tiếp tục phát triển mạnh mẽ vào những năm đầu của thế kỷ 20, gắn liền với tên tuổi của Donaldson Brown và Alfred Sloan, là giám đốc hai công ty nổi tiếng là Dupont và General Motor, những người đi tiên phong cho việc ứng dụng kế toán quản trị vào quá trình quản lý doanh nghiệp. Cả hai vị giám đốc đều cùng chung một ý tưởng là:”phân quyền trách nhiệm để kiểm soát tập trung”, thay đổi cấu trúc công ty từ mô hình tập trung sang mô hình quản trị phân quyền, chuyển hoạt động xuống các đơn vị con và đơn vị trung tâm nắm quyền kiểm soát chung.
Sáng kiến của họ đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề phức tạp trong quản trị công ty. Giai đoạn từ năm 1956 đến cuối năm 1980, kế toán quản trị đã bắt đầu hỗ trợ cho nhà quản lý trong quá trình lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định. Kỹ thuật chủ yếu được sử dụng trong giai đoạn này là kỹ thuật phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm. Khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 1995 là giai đoạn phát triển vượt bậc của kế toán quản trị.
Vai trò của kế toán quản trị lúc bấy giờ không chỉ là hỗ trợ cho nhà quản trị mà đã trở thành hoạt động không thể tách rời trong quá trình quản trị doanh nghiệp. Mục tiêu chủ yếu của kế toán quản trị trong giai đoạn này là giảm hao phí nguồn lực trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc vận dụng kỹ thuật phân tích quá trình và quản trị chi phí. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Từ năm 1995 đến nay, kế toán quản trị tiếp tục phát triển với mục tiêu chính là tạo giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Kỹ thuật được sử dụng ở đây là đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông, sự thay đổi trong quá trình hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2011).
Như vậy, kế toán quản trị đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, thay đổi các hình thái để dần dần trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý trong thời đại ngày nay. Ở Việt Nam: Kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí phát triển gắn liền chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp. Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ thực sự được tìm hiều vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán. Về mặt luật pháp, thuật ngữ kế toán quản trị cũng chỉ vừa được ghi nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/06/2003 có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.
Tuy nhiên thông tư này chỉ mới dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Đến ngày 12/6/2006, thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện kế toán quản trị. Từ khi ra đời cho đến nay, kế toán quản trị vẫn còn khá xa vời đối với các doanh nghiệp Việt Nam cả về mặt lý luận lẫn vận hành. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do: - Mới chuyển sang vận hành theo cơ chế kinh tế mới nên kiến thức về tổ chức và quản lý theo cơ chế thị trường của các doanh nghiệp còn hạn chế, chưa nhiều và chưa đầy đủ, trong khi đó thói quen điều hành quản lý kinh doanh thời tập trung bao cấp chưa loại bỏ được nên tạo khó khăn cho việc quản lý theo cơ chế mới.
Điều này ảnh hưởng đến tâm lý trong việc tổ chức bộ máy KTQT trong các DN. - Mô hình tổ chức bộ máy KTQT áp dụng tại Việt Nam là mô hình kết hợp tuân theo chế độ hướng dẫn của Nhà nước, của Bộ Tài chính cũng chỉ mới chú trọng đến hệ thống tài chính, còn vấn đề hướng dẫn về nội dung KTQT, tổ chức công tác quản lý ở các doanh nghiệp thì chưa có những hướng dẫn cụ thể. Do đó phần hành KTTC vẫn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đảm nhiệm chức năng cung cấp thông tin sát thực tế kinh doanh của doanh nghiệp để ra quyết định quản trị. Khái niệm kế toán quản trị: Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.
Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991). Theo Viện kế toán quản trị Mỹ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và cung cấp thông tin tài chính cho nhà quản trị để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát hoạt động trong tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả và có trách nhiệm các nguồn lực của tổ chức” Viện kế toán quản trị Anh đưa ra định nghĩa về kế toán quản trị như sau:”Kế toán quản trị là một bộ phận không thể tách rời của công tác quản trị. Nó bao gồm việc xác định, trình bày, và giải thích thông tin nhằm sử dụng cho việc: - Đề ra chiến lược. - Hoạch định và kiểm soát các hoạt động.
- Ra quyết định. - Sử dụng tối ưu các nguồn lực. - Cung cấp thông tin cho các cổ đông, người lao động và những đối tượng khác trong doanh nghiệp. - Bảo đảm an toàn tài sản của doanh nghiệp” Theo Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson, tác giả cuốn Advanced Management Accounting, thì kế toán quản trị được định nghĩa là:”hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động doanh nghiệp”.
Theo luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế toán, khoản 3, điều 4). Cũng như kế toán tài chính, kế toán quản trị ghi nhận các thông tin về các hoạt động đã diễn ra. Song điều quan trọng là từ các thông tin đó, có thể thiết lập các mô hình dự báo và mô phỏng kết quả của các quyết định chuẩn bị đưa ra nhờ được ghi chép rõ ràng bằng hệ thống kế toán quản trị. Khả năng này làm cho thông tin kế toán quản trị trở nên rất cần thiết cho công tác dự báo và hoạch định tài chính doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị, các quan điểm thể hiện cách nhìn của mỗi tác giả ở các góc độ khác nhau. Nhìn chung thì: hệ thống kế toán quản trị hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp, là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động một cách chi tiết theo quá trình chuyển hóa nguồn lực thành kết quả theo cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp. Do đặc điểm này mà hệ thống kế toán quản trị cho phép nhà quản trị doanh nghiệp thấy rõ hơn mối quan hệ nhân quả tương ứng với quyết định đưa ra. Vai trò của kế toán quản trị: Hệ thống kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều hành của mỗi nhà quản trị.
Vai trò này được thể hiện tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị, cụ thể như sau: - Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch. Đó là cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của đơn vị hay của đối thủ cạnh tranh, là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp. - Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức, điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Những thông tin này giúp ích cho nhà quản trị xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý, cũng như kiểm soát được các hoạt động diễn ra hàng ngày tại doanh nghiệp, đảm bảo các hoạt động trong doanh nghiệp đươc thực hiện một cách nhịp nhàng và hiệu quả nhất.
- Vai trò cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát, đó là giúp nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự toán so với thực tế hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đưa ra các biện pháp đảm bảo cho mọi hoạt động trong tổ chức đi đúng mục tiêu. - Đối với vai trò cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định, thông tin kế toán quản trị càng thể hiện rõ được tầm quan trọng của mình. Đó là giúp nhà quản trị lựa chọn phương án thích hợp nhất. Có thể nói, các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp xuyên suốt từ đầu đã hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị thực hiện được nội dung cơ bản nhất của hoạt động quản trị là vấn đề ra quyết định.