Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sƣ phạm tƣơng tác. Chƣơng 2: Thực trạng dạy học môn Vẽ kỹ thuật tại trƣờng Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Tổ chức dạy học theo quan điểm sƣ phạm tƣơng tác môn Vẽ kỹ thuật tại trƣờng Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục.
4 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SƢ PHẠM TƢƠNG TÁC 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ SƢ PHẠM TƢƠNG TÁC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Trên thế giới Hoạt động dạy học bao gồm nhiều thành tố cấu trúc, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng tạo nên sự vận động của cả quá trình dạy học theo mục tiêu đã định. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố, vai trò và mối quan hệ tƣơng tác ấy giữa các thành tố của hoạt động dạy học đã đƣợc đề cập đến từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại.
Nghiên cứu về quan hệ tƣơng tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và học đã đƣợc đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại. Về phƣơng pháp giáo dục, Khổng Tử (551-479 tr.CN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với ngƣời thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của ngƣời học khi mô tả hoạt động dạy học và luôn coi trọng việc tự học, tự rèn luyện, tu thân; phát huy mặt tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh; dạy học sát đối tƣợng, cá biệt hóa đối tƣợng; kết hợp học và hành, lí thuyết với thực tiễn; phát triển hứng thú, động cơ, ý chí của ngƣời học. Nhƣ vậy, ngƣời học đƣợc xem xét nhƣ là đối tƣợng và là mục đích của quá trình dạy học, nhìn chung đó vẫn là bài học lớn cho các nhà trƣờng hiện đại [27, trang 25]. Ở Đức, nhà tâm lý học Kurt levin (1890 - 1947) đã khởi xƣớng trào lƣu tƣơng tác nhóm vào đầu những năm 40 của thế kỉ XX.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo Giảng viên (IUFM) ở Greonoble, là Guy Brousseau, Claude Comiti, M.Margolinas… nghiên cứu về lí thuyết tình huống đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sƣ phạm thúc đẩy hoạt động học của ngƣời học lên mức cao nhất mà vẫn không làm lu mờ hay hạ thấp vai trò của ngƣời dạy với tƣ cách là ngƣời “khởi xƣớng” và cũng là ngƣời “kết thúc” một tình huống dạy học. Trong những công trình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích một số vấn đề cơ bản của dạy học dựa vào tƣơng tác nhƣ sau [26, trang 117]: 1/ Xác nhận cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn nhân tố: Học (ngƣời học) - Dạy (ngƣời dạy) - Kiến thức (khái niệm khoa học) - Môi trƣờng (điều kiện dạy học cụ thể). 5 Luan van 2/ Phân tích các vai trò khác nhau của ngƣời dạy trong tình huống dạy học: đề xuất tình huống và tổ chức cho ngƣời học giải quyết tình huống để tìm thấy kiến thức và tạo điều kiện để ngƣời học chính xác hóa kiến thức (kết quả của sự tìm tòi) thành tri thức khoa học (các tác giả gọi là ủy thác một tình huống và thể chế hóa kiến thức); phân loại tình huống dạy học và mức độ can thiệp của thầy giáo trong từng loại tình huống (tình huống didactic và tình huống a -didactic). 3/ Giải thích cơ chế tác động qua lại giữa ngƣời dạy và ngƣời học trong tình huống a-didactic (đƣợc hiểu nhƣ là một yếu tố của môi trƣờng).
4/ Môi trƣờng không phải là một yếu tố tĩnh, bất động, mà đích thực là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môi trƣờng không chỉ ảnh hƣởng đến ngƣời học, mà quan trọng ở chỗ sự thích nghi của ngƣời học trƣớc những đòi hỏi của môi trƣờng đã thay đổi ngƣời học, ngƣời dạy và hoạt động của họ và làm thay đổi cả chính môi trƣờng nữa [26, trang 117-118]. Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả này, đã ít đề cập đến sự tác động của thầy nhằm gia tăng tính tích cực, độc lập, sáng tạo của ngƣời học khi lĩnh hội tri thức khoa học. Bên cạnh đó, môi trƣờng đƣợc các tác giả xem là yếu tố động, có thể thay đổi để đáp ứng cho nhu cầu ngƣời học, song ở đây các tác giả mới chỉ đề cập đến môi trƣờng nhƣ những tình huống dạy học cụ thể, mà chƣa bao quát hết hay đƣợc nhiều các khía cạnh, các mặt khác nhau của môi trƣờng dạy học. Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) là một triết gia nổi tiếng của dòng Triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII, một nhà văn nổi tiếng, một nhà giáo dục lớn của Pháp và thế giới thế kỉ XVIII.
Quan điểm giáo dục của ông đƣợc thể hiện tập trung trong cuốn Emile (1762). Ông xây dựng phƣơng pháp tiêu cực. Trong đó luôn coi trọng ngƣời học, nhất là vốn kiến thức, kinh nghiệm của ngƣời học trong quá trình học tập. Môi trƣờng dạy học đã đƣợc xem xét, đƣợc coi là một yếu tố của quá trình dạy học, song môi trƣờng lại đƣợc xem xét ở góc độ tiêu cực, những “thói hƣ, tật xấu” ảnh hƣởng tới ngƣời học.
Vai trò của ngƣời thầy đƣợc nâng lên, khi mà trong quá trình dạy học phải giúp ngƣời học có đƣợc vốn kiến thức, kinh nghiệm đồng thời phải tổ chức môi trƣờng để ngƣời học học tập nhƣng chủ yếu ở khía cạnh “ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con ngƣời”[27, trang 35]. 6 Luan van Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” đã đề cậptới một trƣờng phái sƣ phạm tƣơng tác cùng với nền tảng lý luận của nó.Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học đã khẳng định yếu tốmôi trƣờng trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tối thiểu là sự tƣơng tác của: thầy giáo – học trò – môi trường đối với tri thức. Trong sƣ phạm tƣơng tác này, GV biểu lộ sự quan tâm lo lắng khi giúp đỡ, khuyến khích và giúp SV thành công hơn; SV thể hiện thái độ có trách nhiệm hơn trong quá trình học vì GV giúp họ nhận ra sự tham gia và sự quan tâm của SV không ngừng đƣợc động viên; yếu tố môi trƣờng đƣợc hai tác giả mô tả một cách toàn diện và phong phú (môi trƣờng vật chất, môi trƣờng tinh thần, môi trƣờng bên ngoài và môi trƣờng bên trong) mà trƣớc đây, trong lí luận dạy học các điều kiện này chƣa đƣợc quan tâm và đánh giá đúng mức ảnh hƣởng của chúng đến việc tổ chức hoạt động sƣ phạm của ngƣời GV [8]. Ở Ruanda, hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trƣờng một cách cụ thể và trực quan, nhƣng lại chƣa chỉ rõ bằng cách nào để ngƣời dạy phát huy đƣợc tác động tích cực của môi trƣờng đến ngƣời học và hoạt động học.
Hai tác giả đã chỉ ra các thành phần không thể thiếu trong hoạt động dạy học theo QĐSPTT, đó là sự hứng thú, hợp tác và thành công, Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản (hạt nhân) của QĐSPTT là Dạy – Học – Môi trƣờng, chức năng của từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học nhƣng chƣa đề xuất đƣợc các phƣơng tiện cụ thể để thực hiện các định hƣớng đó trong thực tiễn dạy học. Song song đó, QĐSPTT mà hai tác giả đề xuất mới chỉ xuất phát, căn cứ trên cơ sở khoa học thần kinh về nhận thức, trong khi hoạt động sƣ phạm không chỉ là cơ chế về mặt sinh học, mà rất quan trọng đó là cơ chế về tâm lí, giáo dục học, xã hội học… Do đó, trong quá trình triển khai quan điểm của mình, hai tác giả quá tập trung vào ngƣời học, vào bộ máy học của ngƣời học mà ít quan tâm tới ngƣời dạy và môi trƣờng, nếu có chỉ là để phục vụ thuần túy cho ngƣời học, cho lợi ích của ngƣời học và điều này làm hạn chế ý nghĩa, chức năng của các tƣơng tác sƣ phạm trong dạy học[8]. Kết luận: Do ra đời từ rất sớm nên những nghiên cứu này mặc dù đã làm sáng rõ mối quan hệ giữa ngƣời dạy, ngƣời học và môi trƣờng nhƣng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó lý do về phƣơng tiện dạy học là yếu tố chính. Tại thời điểm đó những 7 Luan van phƣơng tiện hiện đại nhƣ máy chiếu tƣơng tác, bút tƣơng tác,.
và cách thức áp dụng còn hạn chết nên chƣa phát huy hết yếu tố môi trƣờng trong các nghiên cứu đấy. Tại Việt Nam Hiê ̣n nay, ở Việt Nam , dạy học tƣơng tác đang dần đƣợc phổ biến rộng rãi ở các nhà trƣờng. Đối với các trƣờng tiể u ho ̣c, viê ̣c sƣ̉ du ̣ng bảng tƣơng tác trong da ̣y ho ̣c bƣớc đầ u đã mang la ̣i nhƣ̃ng hiê ̣u quả tić h cƣ̣c. Vấn đề xây dựng mối quan hệ tích cực giữa ngƣời dạy- ngƣời học- môi trƣờng đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, anh chị em SV tham gia.
Mỗi tác giả, mỗi bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc thiết lập mối quan hệ của bộ ba: ngƣời dạy- ngƣời học- môi trƣờng trong quá trình dạy học. Nhƣ qua hệ thống bài tập tình huống, thông qua việc hình thành phƣơng pháp dạy học, sử dụng phƣơng pháp nêu vấn đề. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận về dạy học tƣơng tác và kết quả khảo thực nghiệm sƣ phạm, tác giả Vũ Văn Công với đề tài nghiên cứu "Vận dụng quan điểm sƣ phạm tƣơng tác vào dạy học nội dung "Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng" hình học 11 nâng cao trƣờng trung học phổ thông" đã đề xuất đƣợc quy trình dạy học theo QĐSPTT với việc khẳng định đƣợc tính khả thi và hiệu quả trong dạy học môn Toán, tuy nhiên tác giả chƣa cụ thể hóa và thể hiện rõ yếu tố môi trƣờng trong quy trình đó [5].