CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP NHÓM VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH 1. CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HS 1.1 Các khái niệm liên quan đến tính tích cực, tự lực của học sinh 1.1 Tính tích cực nhận thức Hoạt động nhận thức của học sinh là hoạt động học tập chiếm lĩnh kiến thức được tổ chức với sự chỉ đạo của người thầy. Khi nói đến tích tích cực của HS là nói đến tính tích cực nhận thức. Tính tích cực nói đến ở đây được đề cập trong quá trình dạy học và chủ yếu nhấn mạnh đến quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình học tập.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, ”Tính tích cực là một phẩm chất của con người, là một khái niệm biểu thị sự nổ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng diễn ra trên nhiều mặt: sinh lý, tâm lý, xã hội,… Tính tích cực cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi giải quyết một vấn đề nào đó.”[22] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện và điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân”[1] Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, tính tích cực nhận thức biểu hiện ở chỗ huy động mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy. Theo đó, tính tích cực nhận thức trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.[12] 14 Theo tâm lí học, tính tích cực nhận thức của học sinh tồn tại với tư cách là cá nhân với toàn bộ nhân cách của nó.
Cũng như bất kì một hoạt động nào khác, hoạt động nhận thức được tiến hành trên cơ sở huy động các chức năng nhận thức, tình cảm và ý chí, trong đó chức năng nhận thức đóng vai trò chủ yếu. Các yếu tố tâm lí kết hợp với nhau tạo nên tâm lí hoạt động nhận thức. Sự tác động này không cứng nhắc mà trái lại luôn luôn biến đổi tạo nên rất nhiều dạng khác nhau của các nhiệm vụ nhận thức cụ thể mà học sinh phải thực hiện. Sự biến đổi này càng linh hoạt bao nhiêu thì học sinh càng dễ thích ứng với nhiệm vụ nhận thức khác nhau và tính tích cực nhận thức càng thể hiện ở mức độ cao.[25] Như vậy, có thể hiểu tính tích cực nhận thức của HS là trạng thái hoạt động thể hiện khát vọng cao trong học tập, sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực của HS trong quá trình học tập và nghiên cứu, huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập, góp phần phát triển nhân cách của HS.
Nó tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân; đồng thời nó hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới, những phương pháp mới để giải quyết vấn đề nhằm tạo ra những phát minh mới bất ngờ và có giá trị cho cuộc sống. Người ta phân ra ba loại tính tích cực: - Tính tích cực tái hiện được đặc trưng bằng sự bắt chước tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện. - Tính tích cực tìm tòi được đặc trưng bằng sự bình luận, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, lòng khát khao hiểu biết và hứng thú học tập. - Tính tích cực sáng tạo là mức độ cao nhất của tính tích cực.
Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mọi người thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa để đạt được mục đích.2 Tính tự lực nhận thức Tính tự lực nhận thức là hạt nhân của tính tích cực. Nó bao gồm nghĩa rộng và nghĩa hẹp. - Theo nghĩa rộng, bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho sự tự học. Tức người học ý thức được nhu cầu học tập của mình và của tập thể, ý thức được mục đích học tập - Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập cho phép HS tự học 15 Từ sự hiểu tính tự lực nhận thức đó có thể nhận thấy trong đó thể hiện sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa ý thức tình cảm và hành động, giữa động cơ, tri thức và PP hoạt động tự học.
Vì vậy, tính tự lực nhận thức có các thành phần cấu trúc sau: - Động cơ nhận thức: thể hiện ở nhu cầu hứng thú nhận thức, động cơ có tính chất xã hội và thế giới quan. Thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt động nhận thức-học tập. - Năng lực học tập: được đặc trưng bằng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, vững vàng làm chổ dựa cho hoạt động nhận thức, sự phát triển trí tuệ và phương pháp suy nghĩ. Nhờ đó mà HS có thể dễ dàng tự xác định được nhiệm vụ nhận thức, thay đổi những cách thức hành động để phù hợp với những hoàn cảnh mới và biết đánh giá đúng những yêu cầu và nhiệm vụ đề ra.
Do đó người học mới có thể tự lĩnh hội tri thức mới từ những nguồn nhận thức khác nhau. - Sự tổ chức học tập: là sự thống nhất giữa PP suy nghĩ và PP lao động chung của hoạt động nhận thức (PP lao động chung bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức kế hoạch học tâp và tự kiểm tra) Như vậy, tính tự lực nhận thức là mặt hành động ý chí, thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập.2 Những biểu hiện của việc tích cực, tự lực của học sinh Muốn tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, trước hết GV phải nắm được thực trạng của tính tích cực, tự lực nhận thức nhờ dựa vào những dấu hiệu, những biểu hiện cụ thể sau: Thứ nhất là những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú. Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận thức, trong đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng, mà hướng vào các thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức. Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ ra ngoài dưới dạng tính tò mò, lòng khao khát cái mới.
Dưới ảnh hưởng của hứng thú nhận thức, các em tích cực tri giác hơn và tri giác sâu sắc hơn, tinh tế 16 hơn, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ hình ảnh diễn ra tích cực hơn, tưởng tượng trở nên sáng tạo hơn và có hiệu quả hơn. Như vậy, nhờ có hứng thú nhận thức mà hoạt động diễn ra thuận lợi hơn lâu hơn và có hiệu quả hơn. Thứ hai là những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm. Thật ra, những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích luỹ một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lý thông tin mới thấy được, cụ thể là: • Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá.
vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức. • Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kỹ năng đã tích luỹ được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lý các tình huống mới. • Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát. • Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình.
• Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất. • Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu thông báo hết giờ. Thứ ba là kết quả học tập. Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức.
Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt. Mức độ tích cực của học sinh trong quá trình học tập không giống nhau. Thầy giáo có thể phát hiện được điều đó qua một số chỉ tiêu như: - Mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học (4 mức độ): Mđ1: Thụ động hoàn toàn (đơn thuần ghi chép). 17 Mđ2: Nhận biết không chủ định (giáo viên nói gì, ghi đó, không phân biệt đúng - sai).
Mđ3: Nhận biết có chủ định: (tiếp thu có chọn lọc, ghi theo ý riêng của mình). Mđ4: Tích cực suy nghĩ, tìm tòi, tham gia giải quyết vấn đề (được lượng hoá bằng số % số học sinh phát biểu xây dựng bài). - Sự tập trung chú ý của học sinh trong tiến trình bài học (4 mức độ): Mđ1: Hoàn toàn không chú ý (làm việc riêng, nói chuyện, không tập trung) Mđ2: Chú ý giả tạo (ngồi nghiêm chỉnh, nhưng đầu óc trống rỗng). Mđ3: Chăm chú theo dõi, quan sát.
Mđ4: Tập trung chú ý cao độ (tập trung, hăng say phát biểu xây dựng bài. - Hứng thú nhận thức của học sinh (4 mức độ): Mđ1: Không thích Mđ2: Bình thường (không biểu hiện thích hay không). Mđ3: Thích Mđ4: Rất thích. - Kết quả học tập: (sau một giờ học, một quá trình dạy học) - Có thể đo kết quả học tập bằng hai phương án: • Điểm số: Đánh giá kết quả nhận thức.
• Đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng (theo 4 mức độ). Mđ1: Sự ghi nhớ (nhớ lại, tái hiện, nhận biết).