MỞ ĐẦU Răng là một thành phần quan trọng của hệ thống nhai, không những giúp nhai nghiền thức ăn mà còn ảnh hưởng đến chức năng phát âm và thẩm mỹ. Phục hồi răng đã mất là điều cần thiết và được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như phục hình tháo lắp, phục hình cố định. Trong đó, phục hình cố định được lựa chọn nhiều mặc dù chi phí điều trị cao [70]. Sự thành công của phục hình cố định phụ thuộc tình trạng răng trụ gồm cả mô cứng và mô mềm.
Người điều trị cần có kiến thức về giải phẫu, sinh lý răng, hệ thống nhai, vật liệu phục hình, cũng như cần có tay nghề vững vàng, khéo léo. Ngoài ra, sự kết hợp chặt chẽ với người kỹ thuật viên phục hình răng trong công tác la bô, trang thiết bị, dụng cụ, vật liệu… cũng góp phần quan trọng trong việc thực hiện một phục hình hoàn hảo [3]. Phục hình cố định bằng hình thức mão răng ngày càng phát triển cả kỹ thuật chế tác và vật liệu sử dụng. Tuy nhiên, theo thời gian các phục hình có thể bị nứt, vỡ, lỏng lẻo, bong, sút, …Do đó, cần phải có các nghiên cứu đánh giá độ bền, sự vững ổn của phục hình sau khi gắn [32], [61].
Phục hình sử dụng lâu dài trong môi trường miệng, vì vậy việc tác động của phục hình lên mô nha chu là vấn đề còn nhiều tranh cãi và cần được quan tâm. Interleukin là một cyctokine đóng vai trò chất trung gian gây viêm rất quan trọng trong phản ứng viêm [49]. Sự thay đổi dịch khe nướu và Interleukin 1β quanh phục hình là một trong những chỉ dấu sinh học đáng tin cậy của quá trình viêm nướu hay bệnh nha chu [11], [36]. Việc đánh giá chất lượng phục hình mão răng, sự thay đổi các chỉ dấu sinh học quanh phục hình vẫn luôn là các chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu thực hiện đánh giá chất lượng phục hình sau nhiều năm sử dụng [62], [74], đánh giá tác động của mão răng lên mô nha chu [43], [40] hay so sánh các vật liệu gắn phục hình khác nhau [56], [50]. 2 Nghiên cứu của Ozen (2001), Arian (2016) và Saravanakumar (2017) so sánh các chỉ số nha chu, nồng độ interleukin 1β trong khe nướu của răng mang phục hình và răng thật nhằm tìm ra mối liên quan giữa phục hình và mô nha chu. Tại các Khu điều trị, Khoa Răng Hàm Mặt-Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm có khoảng hơn 100 cầu răng, mão răng được thực hiện trên bệnh nhân. Tất cả cầu răng, mão răng đều được các sinh viên Răng Hàm Mặt tiến hành dưới sự hướng dẫn và đánh giá của giảng viên Bộ môn Phục hình răng.
Tại đây, đã có nghiên cứu của Trần Thiên Thủy Trúc (2006) [4] đánh giá chất lượng phục hình cố định gồm: răng chốt đơn giản, mão kim loại toàn diện, mão kim loại mặt nhựa, cầu răng sau 5 năm điều trị. Với sự phát triển của công nghệ vật liệu, kỹ thuật chế tác, trong những năm gần đây tại các Khu điều trị Khoa Răng Hàm Mặt đã có nhiều thay đổi về vật liệu phục hình và hình thức phục hình. Tuy vậy, đến nay chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả phục hình mão sứ kim loại về thẩm mỹ, giải phẫu, đường hoàn tất cũng như tình trạng nha chu và sự thay đổi nồng độ interleukin- 1β của dịch nướu ở răng mang phục hình. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Tình trạng phục hình mão răng sau 3 năm thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh” với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tình trạng phục hình mão răng sứ kim loại sau 3 năm do sinh viên Răng Hàm Mặt thực hiện trên bệnh nhân tại khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu cụ thể:. Đánh giá mão răng sứ kim loại sau 3 năm thực hiện về thẩm mỹ, giải phẫu và đường hoàn tất theo tiêu chuẩn California Dental Association (CDA). So sánh các chỉ số nha chu, nồng độ IL-1β trong dịch khe nướu của răng mang mão và răng đối diện. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Phục hình mão răng sứ kim loại 1. Mão răng sứ kim loại Trong thực hành nha khoa, sứ được ứng dụng từ rất sớm vì tính thẩm mỹ cao và sự tương hợp về mặt sinh học. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của sứ là giòn, dễ nứt vỡ dưới tác động của lực nhai. Vì lý do đó, sự ra đời của sứ có sự dính hoá học với khung sườn kim loại đã gia tăng độ chịu lực, giảm bớt nứt gãy của sứ.
Ngày nay, mão sứ - kim loại là một trong những loại phục hình được sử dụng rất rộng rãi [3]. Định nghĩa Mão sứ kim loại (PFM – Porcelain fused to metal) là mão toàn diện bằng kim loại được bao phủ toàn bộ bên ngoài bằng sứ, là đơn vị dùng trong phục hồi cố định các mão lẻ hoặc trụ cầu, gồm sườn kim loại phía trong và sứ đắp từng lớp thẩm mỹ ở bên ngoài. Phục hồi được thực hiện bằng cách làm mẫu sáp để đúc sườn kim loại, làm nguội và xử lý nhiệt (làm oxi hóa). Một lớp chất che màu được thiêu kết vào cấu trúc kim loại để che màu kim loại và bắt đầu dán sứ vào kim loại.
Các lớp sứ ngà và sứ men được tiếp tục thêm vào, tạo hình và làm nhẵn bề mặt để mô phỏng màu sắc, ánh sáng, tạo lại nét thẩm mỹ của một chiếc răng tự nhiên [71]. Thành phần Phục hình sứ kim loại gồm: cơ bản gồm 4 lớp - Lõi: khung kim loại đúc. - Lớp opaque sứ: lớp đầu tiên bao gồm sứ được sử dụng để che màu tối của kim loại bị oxy hóa bên dưới, cũng là lớp tạo sự kết dính giữa sứ và kim loại. - Lớp trên được đắp bằng sứ màu ngà - Lớp sứ màu men.
5 Ưu điểm và nhược điểm Ưu điểm [3]: - Đề kháng hoàn toàn các tác động hoá học của môi trường miệng. - Cách nhiệt tốt. - Không có tính đàn hồi nên không biến dạng do lực nhai - Không đổi màu trong môi trường miệng và ánh sáng thường. - Có thể làm màu sắc giống răng thật.
- Độ bóng láng thích hợp cho mô mềm, dễ dàng chải rửa. Nhược điểm [3]: - Giòn, đề kháng yếu với các lực nên dễ bể nứt nếu không có sự nâng đỡ bên dưới hoặc độ dày không đều. - Không có tính mềm dẻo nên bờ cạnh mỏng dễ vỡ. - Cứng hơn men nên sẽ gây mòn mặt nhai răng đối diện và chấn thương mô nha chu nếu khớp cắn không cân bằng.
Đường hoàn tất Đường hoàn tất là đường chu vi quanh cùi răng, nằm về phía nướu, là nơi chấm dứt phần mài của cùi răng, nơi cạnh mão sẽ ôm khít vào phần mô răng đã được mài [3]. Đường hoàn tất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khoẻ mô nha chu, đảm bảo yếu tố sinh học và góp phần không nhỏ trong thẩm mỹ phục hình sau này. Đường hoàn tất đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giới hạn của cạnh mão, đảm bảo sự khít sát với mô răng, đồng thời không để xuất hiện khe hở - tránh sự tan rã xi măng trong môi trường miệng dẫn đến rơi sút phục hình. Đây còn là nơi tiếp xúc với mô nha chu, nếu PH tại vị trí này không khít sát hoặc nhẵn láng sẽ gây ra tình trạng viêm nướu, bệnh nha chu, sâu răng, dẫn đến cùi răng bị hư hại [63].
6 Lựa chọn vị trí và kiểu mài đường hoàn tất cần cân nhắc đến yếu tố sinh học và thẩm mỹ để đạt được hiệu quả tối đa cho phục hình. Tuỳ theo từng trường hợp lâm sàng mà đường hoàn tất có thể được sửa soạn theo ba cách: Đường hoàn tất dưới nướu - Được chỉ định trong trường hợp dễ bị sâu răng, thân răng có chiều cao quá thấp, phục hồi lại các răng phía trước (mặt ngoài). - Răng có hình dạng, chiều hướng và vị trí bình thường để việc mài các mặt đứng không phạm quá nhiều mô răng hay ảnh hưởng đến tuỷ răng, hoặc các răng có chiều hướng và hình dạng bất thường nhưng đã được lấy tuỷ răng [3]. Đường hoàn tất trên nướu - Đường hoàn tất trên nướu dễ dàng sửa soạn mà không gây ra tổn thương cho các mô mềm xung quanh.
- Đường hoàn tất trên nướu cũng có xác suất nằm trên men răng cứng chắc cao hơn so với đường hoàn tất dưới nướu. - Mảng bám ít đọng lại và có thể được loại bỏ dễ dàng. - Việc lấy dấu được thực hiện dễ dàng hơn, ít có khả năng gây tổn thương mô mềm. - Phục hồi có thể được đánh giá dễ dàng tại thời điểm gắn hoặc tại các cuộc hẹn tái khám sau đó [69].
Đường hoàn tất ngang nướu - Xi măng gắn được xác định là một yếu tố có khả năng gây bệnh nha chu, đặc biệt là khi chúng xâm lấn vào biểu mô bám dính, nên cần ưu tiên sửa soạn đường hoàn tất ở mức ngang nướu (hoặc trên nướu) để thuận tiện trong việc quan sát và lấy sạch xi măng dư bất cứ khi nào có thể [69]. 7 - Nơi tiếp xúc giữa cạnh mão và răng luôn là một vị trí tiềm ẩn cho sâu răng thứ phát. Đường hoàn tất ngang nướu sẽ ít có khả năng gây sâu răng hoặc bệnh nha chu. - Đường hoàn tất ngang nướu được chỉ định ở những bệnh nhân có rãnh nướu cạn, hoặc ở những mão răng chuyển tiếp.
Một số đặc điểm của mão răng liên quan đến mô nha chu Mục tiêu chính trong phục hồi nha khoa là thay thế răng bị mất cấu trúc, phục hồi chức năng, thẩm mỹ và tương hợp sinh học với môi trường miệng [24]. Để thực hiện những mục tiêu này, các đặc điểm của hình dạng ngoài của mão răng nên được hoàn thiện và cải tiến. Một phục hình lý tưởng là có hình dạng giống với răng tự nhiên nhất và đạt sự tương hợp sinh học cao nhất đối với mô nha chu [41]. Hình dáng mặt ngoài và mặt trong của thân răng có lồi nhẹ ở 1/3 nướu.
Độ lồi khoảng 0,5 mm, tạo nên sự liên tục đường viền ngoài và trong từ thân răng đến nướu dính, chỉ có một vùng rất nhỏ liên quan đến khe nướu. Đặc điểm này là cơ chế bảo vệ của răng đối với mô nha chu trong quá trình ăn nhai, đồng thời cho phép phát huy được khả năng tự làm sạch bởi hoạt động của môi má lưỡi, làm cho vùng khe nướu không có mảng bám [2].