Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Giáo dục Tiểu học, được thực hiện tại Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Ly Kha. Đề tài tập trung nghiên cứu tính tích hợp trong phân môn Luyện từ và câu (LT&C) lớp 5 theo chương trình Thử nghiệm Tiểu học 2000 (TLTN 2000).

Bối cảnh thực tiễn: Từ năm học 2000–2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thay sách Tiếng Việt bậc tiểu học theo Chương trình Tiểu học 2000 (CTTH 2000). Một trong những thay đổi nổi bật là sự xuất hiện của phân môn LT&C — tích hợp hai phân môn Từ ngữ (TN) và Ngữ pháp (NP) vốn tồn tại tách biệt trong chương trình Cải cách Giáo dục (CCGD) 165 tuần. Quan điểm tích hợp được xác định là một trong các nguyên tắc nền tảng chi phối việc thiết kế nội dung chương trình và biên soạn sách giáo khoa (SGK) tiểu học, bên cạnh quan điểm giao tiếp và tích cực hóa hoạt động của học sinh (HS). Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu (2005), chương trình TNTH 2000 ở lớp 5 vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm tại số ít trường ở Thành phố Hồ Chí Minh, và các nghiên cứu chuyên biệt về tính tích hợp trong phân môn LT&C còn rất hạn chế.

Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu quan điểm tích hợp trong phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000) nhằm góp thêm cứ liệu cho việc biên soạn SGK, sách giáo viên (SGV), tài liệu tham khảo và việc tổ chức dạy LT&C cho HS lớp 5.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. So sánh, đối chiếu nội dung chương trình, SGK Tiếng Việt lớp 5 (TLTN 2000) phần LT&C với chương trình CCGD phần TN và NP trên quan điểm tích hợp.
  2. Thăm dò ý kiến của giáo viên (GV) đang dạy theo chương trình TNTH 2000 về việc đảm bảo quan điểm tích hợp khi dạy học LT&C.
  3. Từ hai nhiệm vụ trên, đề xuất một số ý kiến về nội dung chương trình và SGK phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000).

Đối tượng nghiên cứu:

  • Phân môn LT&C trong chương trình và SGK Tiếng Việt 5 (TLTN 2000) và phân môn TN, NP trong chương trình và SGK Tiếng Việt 5 (CCGD).
  • Giáo viên khối 5 dạy chương trình TNTH 2000 tại một số trường trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gồm Trường Tiểu học Dương Minh Châu (Quận 10), Trường Tiểu học Nguyễn Chí Thanh (Quận 10) và Trường Tiểu học Chương Dương (Quận 1).

Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở việc tìm hiểu quan điểm tích hợp trong chương trình và SGK phân môn LT&C (TLTN 2000) lớp 5, có so sánh với chương trình và SGK CCGD; không khảo sát toàn diện các yếu tố khác như cơ sở vật chất, đặc điểm HS.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận vận dụng khái niệm tích hợp trong dạy học từ nhiều góc độ:

  • Theo nghĩa rộng: Tích hợp là quan điểm lý luận dạy học nhằm tạo điều kiện để HS vận dụng kiến thức vào các tình huống có ý nghĩa, phát triển năng lực — dẫn theo Hoàng Thị Tuyết, Nguyên tắc và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, 2004.
  • Theo nghĩa hẹp: Tích hợp thể hiện sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực — dẫn theo Nguyễn Thanh Sơn, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1/1997.
  • Theo góc độ môn học và chương trình: Tích hợp là cấu trúc lại kiến thức và kinh nghiệm sống thành tổng thể phù hợp nhu cầu và vốn sống của trẻ.

Khóa luận xác định hai hướng tích hợp chính trong môn Tiếng Việt tiểu học:

  • Tích hợp theo chiều ngang: Tích hợp kiến thức tiếng Việt với mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy, thực hiện thông qua hệ thống chủ điểm học tập.
  • Tích hợp theo chiều dọc: Tích hợp đơn vị kiến thức và kỹ năng mới với những kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm, đảm bảo tính liên tục và nâng cao qua từng khối lớp.

Các tác giả và tài liệu lý luận được trích dẫn trực tiếp bao gồm: Đặng Thành Hưng (Dạy học hiện đại: Lý luận – Biện pháp – Kỹ thuật, Nxb GD, 2002); Đỗ Hữu Châu (Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, 1999); Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, 2002); Phan Thiều, Lê Hữu Tinh (Dạy học Từ ngữ ở tiểu học, Nxb GD, 2003); và các bài viết trên Tạp chí Giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục của các tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Dương Tiến Sỹ, Nguyễn Minh Phương, Cao Thị Thặng, Nguyễn Minh Thuyết.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu tài liệu lý luận về tích hợp; phân tích nội dung chương trình và SGK Tiếng Việt 5 (TLTN 2000) phần LT&C, kết hợp so sánh với chương trình CCGD; tham khảo SGV Tiếng Việt cả hai chương trình.
  2. Phương pháp điều tra: Phát phiếu trắc nghiệm và phỏng vấn trực tiếp GV khối 5 tại các trường thử nghiệm trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phương pháp thống kê tổng hợp: Tổng hợp và so sánh số liệu từ kết quả thăm dò ý kiến GV.
  4. Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Phân tích các ngữ liệu, bài tập trong SGK để làm rõ cách thức thể hiện quan điểm tích hợp.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu gồm: SGK Tiếng Việt lớp 5 (TLTN 2000) và SGK Tiếng Việt lớp 5 (CCGD) cùng SGV tương ứng; phiếu trắc nghiệm và kết quả phỏng vấn GV khối 5 tại ba trường tiểu học thử nghiệm ở Thành phố Hồ Chí Minh; tài liệu tham khảo về lý luận dạy học tích hợp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương Một: Tiền đề lý luận

Chương này xây dựng khung lý thuyết cho toàn bộ khóa luận. Tác giả làm rõ khái niệm "tích hợp" từ nhiều góc độ (nghĩa rộng, nghĩa hẹp, góc độ môn học, góc độ chương trình), phân tích cơ sở khoa học của tích hợp trong dạy học gồm hai nhóm cơ sở chính:

  • Cơ sở tâm lý – giáo dục: Dạy học tích hợp phù hợp đặc điểm nhận thức của HS tiểu học (6–11 tuổi); giúp tránh trùng lặp chương trình, thu gọn số môn học; gắn nội dung dạy học với vốn sống và nhu cầu phát triển của trẻ; tạo điều kiện GV tiểu học (người phải dạy nhiều môn) giảm bớt khối lượng công việc không cần thiết.
  • Cơ sở xã hội và thực tiễn: Tích hợp giúp nhà trường gắn với thực tế cuộc sống; giải quyết áp lực đưa các nội dung mới vào nhà trường (bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, luật lệ giao thông, phòng chống ma túy, AIDS) trong khi quỹ thời gian học tập có hạn.

Chương cũng dẫn số liệu UNESCO về sự phát triển của giáo trình tích hợp trên thế giới: 25 giáo trình (1968), 73 giáo trình (1973), 75 giáo trình (1975), 260 giáo trình (1986); đồng thời nêu bối cảnh Việt Nam từ Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (tháng 8/1991) đến Luật Giáo dục (1998) và việc soạn thảo chương trình thử nghiệm mới.

Nguyên tắc tích hợp trong CTTH 2000 được thể hiện qua việc nhóm các môn học thành ba nhóm nội dung:

Nhóm nội dung Môn học tương ứng
Nhóm 1: Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức
Nhóm 2: Toán, Khoa học công nghệ, Kinh tế gia đình, Thủ công, Vệ sinh, Giáo dục sức khỏe Toán, Tự nhiên và xã hội, Kĩ thuật
Nhóm 3: Giáo dục thể chất, Giáo dục nghệ thuật và thẩm mĩ Tự nhiên và xã hội, Thể dục, Hát – Nhạc, Mĩ thuật

Chương Hai: Tính tích hợp trong phân môn Luyện từ và câu Tiếng Việt lớp 5

Đây là chương trọng tâm, phân tích cụ thể cách thức thể hiện quan điểm tích hợp trong nội dung chương trình và SGK phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000) theo hai hướng chính.

Tích hợp theo chiều ngang bao gồm ba cấp độ:

Thứ nhất, tích hợp nội bộ hai phân môn TN và NP. Trong chương trình CCGD, thời lượng thực hành chiếm 37% tổng thời lượng, trong khi CTTH 2000 là 56%. Chương trình CCGD có nhiều hơn 9 tiết lý thuyết nhưng ít hơn 19 tiết thực hành so với CTTH 2000. Tích hợp TN–NP được thể hiện qua ba kiểu bài:

  • Kiểu bài cung cấp lý thuyết: Tuy không thể hiện tích hợp qua câu hỏi giao việc một cách lộ liễu, nhưng kiến thức từ và câu luôn gắn bó trong quá trình HS tiếp nhận và luyện tập.
  • Kiểu bài thực hành – luyện tập: Số bài tích hợp kiến thức từ và câu trong dạng bài thực hành lý thuyết của CTTH 2000 chiếm 57% tổng số bài (so với 51% trong CCGD). Các dạng bài đặt câu, dựng đoạn buộc HS vận dụng đồng thời kiến thức từ ngữ và ngữ pháp.
  • Dạng bài mở rộng vốn từ và ôn tập – tổng kết: 100% các bài Mở rộng vốn từ trong SGK cả hai chương trình đã thực hiện quan điểm tích hợp, nhưng CTTH 2000 làm chặt chẽ hơn do không tách rời giữa giải nghĩa từ và dùng từ đặt câu.

Thứ hai, tích hợp LT&C với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt lớp 5. Kết quả thống kê cho thấy:

Hình thức tích hợp CTTH 2000 CT CCGD
Tích hợp với Tập đọc qua ngữ liệu 27% số bài 12% số bài
Ôn tập kiến thức Chính tả tích hợp trong LT&C 10 tiết (quy tắc viết hoa) Ít hơn, hình thức đơn điệu hơn

Thứ ba, tích hợp LT&C với mảng kiến thức văn học, thiên nhiên, con người và xã hội thông qua hệ thống chủ điểm. Các ngữ liệu trong phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000) gồm tục ngữ, thành ngữ, ca dao và các đoạn văn học có giá trị thẩm mĩ giúp HS tiếp nhận kiến thức ngôn ngữ đồng thời với kiến thức về tự nhiên, con người, xã hội (ví dụ: bài tập giới thiệu rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên, Luật Bảo vệ môi trường, quyền trẻ em).

Tích hợp theo chiều dọc được phân tích qua:

  • Tích hợp kiến thức theo chủ điểm: Các chủ điểm TVS (TLTN 2000) là sự nâng cao và mở rộng có hệ thống từ các lớp dưới. Ví dụ: Mở rộng vốn từ "Mái nhà chung" (lớp 2, 3) chỉ yêu cầu kể tên các nước; đến lớp 4 yêu cầu viết đúng quốc hiệu; lớp 5 yêu cầu hiểu khái niệm hòa bình và có thái độ bảo vệ hòa bình thế giới.
  • Tích hợp kiến thức về từ và câu: Kiến thức được nâng cao dần từ mức độ nhận diện (lớp 2, 3) → nắm khái niệm và phân loại (lớp 4) → tổng kết, sử dụng đúng sắc thái biểu cảm, viết đoạn (lớp 5). Điều này áp dụng nhất quán với các nội dung từ loại, dấu câu, nghĩa của từ (từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa).
  • Tích hợp kỹ năng: Bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết được rèn luyện nâng cao dần. Kỹ năng nói tiến từ độc thoại đơn giản đến tranh luận, bảo vệ ý kiến trước đám đông; kỹ năng đọc tiến từ đọc trơn, đọc thầm (lớp 2, 3) đến đọc lướt, nắm ý khái quát trên văn bản dài thuộc nhiều phong cách (lớp 4, 5).

Chương cũng phân tích mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa quan điểm tích hợp với quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hóa hoạt động của HS, thể hiện qua các bài tập tình huống, câu đố, trò chơi ngôn ngữ và các ngữ liệu truyện cười trong SGK TLTN 2000.

Chương Ba: Dạy học Luyện từ và câu lớp 5 theo quan điểm tích hợp

Chương này trình bày kết quả thăm dò ý kiến GV và phân tích nhận thức thực tế của GV về quan điểm tích hợp. Số lượng GV được khảo sát là GV khối 5 tại ba trường dạy theo chương trình TNTH 2000 trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu

Kết quả khảo sát ý kiến GV được tổng hợp như sau:

Nội dung câu hỏi Kết quả (%)
Mục tiêu và nội dung TN, NP trong CCGD là hỗ trợ, bổ sung cho nhau 100% đồng ý
Mục tiêu tích hợp là tăng cường lượng kiến thức cung cấp cho HS 100% (nhưng tác giả đánh giá là nhận thức chưa xác đáng)
Mục tiêu tích hợp nhằm tập trung rèn kỹ năng nghe và đọc 85% (tác giả đánh giá là chưa đầy đủ)
Dạy LT&C theo trình tự: dạy từ rồi đến câu 53%
Dạy LT&C theo hướng lồng ghép đan xen hai nội dung 47%
Không nên tích hợp LT&C với các phân môn khác 69%
Nên tích hợp LT&C với các phân môn khác 31%

Qua phân tích SGK, tác giả chỉ ra: chương trình CTTH 2000 có số bài thực hành – luyện tập và số bài tích hợp vượt trội so với CCGD; thời lượng thực hành của CTTH 2000 chiếm 56% (so với 37% của CCGD); tỷ lệ bài tích hợp ngữ liệu với phân môn Tập đọc là 27% (so với 12% của CCGD).

Giải pháp và ý kiến tác giả đề xuất

  • GV cần nhận thức đúng đắn rằng quan điểm tích hợp trong LT&C không chỉ là "phép cộng gộp" các nội dung kiến thức, mà là sự lồng ghép đan xen có hệ thống kiến thức về từ và câu.
  • GV cần tự điều chỉnh quy trình dạy học để làm nổi bật quan điểm tích hợp, không máy móc dạy theo trình tự tuyến tính của SGK (từ trước, câu sau).
  • Cần tăng cường nhận thức của GV về sự hỗ trợ qua lại giữa phân môn LT&C với phân môn Chính tả — một mối liên hệ mà đa số GV chưa đề cập đến trong kết quả thăm dò.
  • Đối với những khó khăn thực tế (ngữ liệu dài, bài tập yêu cầu vốn sống cao), SGK cần điều chỉnh mức độ và cách bố trí nội dung hợp lý hơn.

Đóng góp so với nghiên cứu trước

Tác giả xác định đây là một trong những nghiên cứu có tính chuyên biệt về tính tích hợp trong phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000), vì các công trình trước (Lê Phương Nga, Lâm Thị Hoa, 2004; các luận văn tại Khoa Giáo dục Tiểu học ĐH Sư phạm TP.HCM) chỉ đề cập đến LT&C ở các lớp dưới hoặc ở các phân môn khác. Khóa luận cung cấp cứ liệu định lượng (số liệu thống kê bài học, tỷ lệ thời lượng) và cứ liệu định tính (phân tích bài tập, ngữ liệu SGK) về tính tích hợp tại lớp 5 — cấp cuối bậc tiểu học, nơi tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang đều đạt mức độ cao nhất trong toàn cấp học.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được văn bản đề cập:

  • Phạm vi khảo sát GV bị giới hạn trong ba trường thử nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh do chương trình TNTH 2000 ở lớp 5 tại thời điểm nghiên cứu mới triển khai tại rất ít trường, nên kết quả thăm dò ý kiến chưa mang tính đại diện rộng.
  • Khóa luận không khảo sát toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả dạy học LT&C theo quan điểm tích hợp (HS, cơ sở vật chất, phương pháp tổ chức lớp học...) mà chỉ tập trung vào chương trình và SGK.
  • Một số bài tập trong SGK TLTN 2000 có ngữ liệu được đánh giá là dài và khó đối với HS, lượng kiến thức bố trí chưa thật liên tục và hợp lý (ví dụ: nội dung dấu câu lớp 5 chủ yếu HS đã học ở lớp 4).

Hướng mở: Nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn khi chương trình TNTH 2000 được triển khai đại trà; nghiên cứu tính tích hợp ở các phân môn khác trong môn Tiếng Việt lớp 5; nghiên cứu thực nghiệm về phương pháp tổ chức dạy học LT&C theo quan điểm tích hợp trong thực tế lớp học.


Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chủ yếu cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học đang học hoặc thực tập giảng dạy Tiếng Việt tiểu học, đặc biệt khi nghiên cứu về chương trình môn Tiếng Việt 2000 và các nguyên tắc biên soạn SGK tiểu học.
  • Giáo viên tiểu học dạy phân môn LT&C muốn hiểu rõ dụng ý tích hợp của SGK để điều chỉnh quy trình dạy học phù hợp, tránh dạy máy móc theo trình tự tuyến tính.
  • Người nghiên cứu về chương trình và SGK tiếng Việt tiểu học, đặc biệt khi so sánh hai chương trình CCGD và CTTH 2000 về thiết kế nội dung và quan điểm phương pháp luận.
  • Sinh viên làm khóa luận về dạy học Tiếng Việt tiểu học có thể tham khảo: phần Chương Một (cơ sở lý thuyết về tích hợp), phần thống kê và so sánh kiểu bài LT&C ở hai chương trình (Chương Hai), và mẫu thiết kế phiếu thăm dò ý kiến GV (Chương Ba).

Câu hỏi thường gặp

1. Phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000) có thời lượng thực hành cao hơn chương trình CCGD như thế nào? Thời lượng dành cho thực hành – luyện tập trong CTTH 2000 chiếm 56% tổng thời lượng của phân môn, trong khi CCGD chỉ chiếm 37%. Cụ thể, CTTH 2000 có nhiều hơn 19 tiết thực hành nhưng ít hơn 9 tiết lý thuyết so với chương trình CCGD.

2. Kết quả thăm dò ý kiến GV về việc có nên tích hợp LT&C với các phân môn khác không? Có 69% GV được hỏi cho rằng không nên tích hợp, với lý do chủ yếu là một tiết LT&C chỉ có 35 phút, lượng kiến thức và bài tập đã quá nhiều (45% GV nêu lý do này), và lo ngại dạy học tản mạn, không khắc sâu được nội dung (33% GV). Chỉ có 31% GV tán thành tích hợp, trong đó 100% số GV nhóm này cho rằng tích hợp giúp HS rèn luyện các kỹ năng thực hành ngôn ngữ thường xuyên hơn.

3. Tỷ lệ bài tích hợp ngữ liệu giữa LT&C và phân môn Tập đọc trong hai chương trình khác nhau thế nào? Số bài tích hợp với Tập đọc qua hình thức lấy ngữ liệu từ các bài tập đọc trong cùng tuần (hoặc chủ điểm) ở CTTH 2000 là 27%, vượt trội so với CT CCGD chỉ đạt 12%.

4. Vì sao 53% GV vẫn dạy LT&C theo trình tự từ trước, câu sau dù SGK hướng đến lồng ghép? Tác giả lý giải rằng do tính tuyến tính của hình thức trình bày SGK — phần đầu bài thường tập trung kiến thức từ ngữ, phần cuối bài mới đến kiến thức câu — nhiều GV hiểu nhầm đây là trình tự dạy học bắt buộc. Thực tế, đây chỉ là giới hạn của hình thức in ấn, còn dụng ý của SGK là GV phải tự điều chỉnh để lồng ghép, đan xen hai nội dung.

5. Trong SGK Tiếng Việt lớp 5 (TLTN 2000), chương trình Chính tả dành bao nhiêu thời lượng để ôn tập kiến thức của phân môn LT&C? Chương trình Chính tả lớp 5 (TLTN 2000) dành 10 tiết để ôn tập kiến thức của phân môn LT&C đã dạy ở lớp 4, tập trung vào các quy tắc viết hoa (tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài; tên huân chương, danh hiệu, giải thưởng; tên cơ quan, tổ chức, đơn vị).


Kết luận

Khóa luận làm rõ quan điểm tích hợp trong phân môn LT&C lớp 5 (TLTN 2000) được thể hiện theo hai hướng — chiều ngang và chiều dọc — trong sự thống nhất biện chứng với quan điểm giao tiếp và tích cực hóa hoạt động của HS. So với chương trình CCGD, CTTH 2000 có tỷ lệ thực hành cao hơn (56% so với 37%), số bài tích hợp nhiều hơn và hình thức tích hợp chặt chẽ hơn ở tất cả các kiểu bài. Tuy nhiên, kết quả thăm dò ý kiến cho thấy phần lớn GV chưa nhận thức đầy đủ về quan điểm tích hợp, đặc biệt là hướng tích hợp liên phân môn — điều này đặt ra yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn và hướng dẫn sử dụng SGV rõ ràng hơn. Khóa luận cung cấp hệ thống cứ liệu phân tích SGK và số liệu thăm dò GV có giá trị tham khảo cho công tác biên soạn tài liệu dạy học phân môn LT&C tiểu học.