CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Ngành công nghiệp là một trong những ngành then chốt, tạo khối lượng sản phẩm lớn trong xã hội mà không ngành nào thay thế được. 2 Đây là một ngành đặc biệt bị ảnh hưởng bởi việc ứ động dòng tiền trong vòng quay hoạt động của mình. Vậy tính thanh khoản của doanh nghiệp có ảnh hưởng gì đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp ngành công nghiệp hay không? Tùy theo cách tiếp cận và giả định nhất định tính thanh khoản có thể có hoặc không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu nước ngoài Tính thanh khoản của doanh nghiệp đã có khá nhiều bài nghiên cứu và sự quan tâm của giới học thuật và sử dụng nó như một biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Tính thanh khoản là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ mức độ một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó.3 Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm hoặc giảm không đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn.
Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp. Nhìn chung, các công ty đầu tư vào tài sản lưu động, hay nói cách khác là các tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản lưu động tạo thành một bộ phận đáng kể trong tổng tài sản và có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các rủi ro và hiệu quả của công ty. Mục tiêu chính của việc nghiên cứu các khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì điều quan trọng nhất với các công ty hiện nay đó là đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn hay đầu tư vào các tài sản kém thanh khoản hơn.
Ngoài ra nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc quản lý tính thanh khoản là điểm mấu chốt trong việc huy động vốn đầu tư và khả năng vay tiền trong tương lai.4 Trước tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất về tính thanh khoản là “Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu mang tên “The 2 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI 3 Keynes, John Maynard. A Treatise on Money.: “The determinants of corporate liquidity: Theory and Evidence (1998) 3 General Theory of Employment, Internet and Money” (Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes (1936). Ông đưa ra ba động cơ lý giải cho mục đích nắm giữ tiền mặt của con người, đó là (1) giao dịch, (2) dự phòng, (3) đầu cơ. Học thuyết của Keynes đã trở thành nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu sau này của nhiều tác giả khác phát triển sau đó.
Kim, Mauer và Sherman (1998) đưa ra nhận định rằng các công ty nắm giữ một lượng đáng kể tài sản lưu động, đôi khi là dư thừa quá mức, bởi vì sự không hoàn hảo của thị trường vốn dẫn đến việc phải duy trì một lượng tài sản lưu động dư thừa để giải quyết một số trường hợp khẩn cấp. Myers và Majluf (1978) cũng cho rằng vì thông tin tài chính hạn chế do bất cân xứng thông tin gây ra, các công ty nên tăng dự trữ vào tài sản lưu động để tài trợ cho các cơ hội đầu tư trong tương lai với các quỹ nội bộ. Do đó, đầu tư vào thanh khoản dư thừa có thể được xem như là một chi phí có hiệu quả và hợp lý để giảm sự phụ thuộc của công ty vào chi phí tài chính bên ngoài tốn kém. Theo Horne và David (1968), thanh khoản có thể được diễn tả như khả năng nhận ra giá trị của phương tiện được chấp nhận trong sự trao đổi và là phương tiện được chấp nhận để trao đổi, tiền là tài sản thanh khoản cao nhất và cũng là một chuẩn mực cho việc kiểm soát giá trị của các loại tài sản khác được so sánh như mức độ thay thế của nó.
Ngoài ra, Horne và David (1968) cũng đưa ra hai thước đo về mức độ thanh khoản: (1) thời gian cần thiết để chuyển đổi tài sản thành tiền; (2) sự chắc chắn của giá thực hiện, tức là, sự ổn định của tỷ lệ trao đổi giữa tiền và tài sản. Tính thanh khoản được biểu hiện bằng các hệ số thanh toán. Hệ số thanh toán là một nhóm các chỉ tiêu tài chính quan trọng được sử dụng để xác định khả năng trả nợ của các nợ phải trả hiện hành sử dụng nguồn vốn nội sinh của doanh nghiệp. Tỷ số thanh khoản đo lường khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ và biên độ an toàn của công ty thông qua việc tính toán các số liệu bao gồm chỉ số thanh toán nhanh, chỉ số thanh toán hiện hành và tốc độ tăng trưởng dòng tiền hoạt động.
Marques và Braga (1995) đã xác định mối quan hệ ngược chiều giữa thanh khoản và lợi nhuận đối với một số các công ty thực phẩm. Blatt (2001) cũng chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa thanh khoản và lợi nhuận, được đo lường bằng Mô hình 4 động và lợi nhuận. Eljelly (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản với chỉ tiêu đại diện là chỉ tiêu thanh toán hiện hành với lợi nhuận trên mẫu gồm các công ty cổ phần tại Ả rập Saudi bằng mô hình đa cộng tuyến và mô hình hồi quy. Kết quả cũng chỉ ra có một mối quan hệ ngược chiều giữa hai chỉ tiêu trên.
Ngược lại với những quan điểm trên, Renato (2010) xét mức độ ảnh hưởng của hệ số thanh toán và tỷ suất sinh lời trong hai giai đoạn gồm ngắn hạn và trung hạn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra trong ngắn hạn và trung hạn, chỉ tiêu thanh khoản đều ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng sinh lời của các công ty hàng không trong mẫu chọn lọc toàn cầu từ 2005 đến 2008. Quasim và Ramiz (2011) nghiên cứu trên mẫu gồm các công ty dầu khí ở Pakistan chỉ ra lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu không chịu ảnh hưởng của tỷ lệ thanh toán nhanh và tỷ lệ thanh toán hiện hành, trong khi tỷ suất hoàn vốn lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hai chỉ tiêu đó. Khác với Quasim và Ramiz (2011), kết quả nghiên cứu của Jathurika (2018) chỉ ra tỷ lệ thanh toán có ảnh hưởng cùng chiều đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tổng tài sản trong khi tỷ lệ thanh toán hiện hành không ảnh hưởng đến hai chỉ tiêu nói trên.
Hoofd và Kool (2004) đã nghiên cứu về quản lý thanh khoản của các công ty ở Hà Lan trong giai đoạn 1977 -1997 với mẫu là 453 công ty phi tài chính. Họ đã sử dụng thống kê mô tả và suy luận để phân tích dữ liệu. Thông qua phân tích hồi quy, Hoofd và Kool (2004) xác nhận tính thanh khoản tăng theo quy mô của doanh nghiệp. Họ cũng nhận thấy một mối quan hệ cùng chiều và cũng có ý nghĩa thống kê giữa vốn lưu động và tính thanh khoản của công ty.
Hoofd (2004) cũng mô tả rằng lượng tài sản công ty nắm giữ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chi phí giao dịch, chi phí cơ hội và bất đối xứng thông tin. Theo thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá trị doanh nghiệp tốt hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất đối xứng thông tin này dẫn đến chi phí cho việc có được nguồn tài chính bên ngoài có xu hướng tăng, do đó, tạo ra nhu cầu phòng ngừa cho thanh khoản công ty. Opler và các cộng sự (1999) nghiên cứu về các yếu tố quyết định và những tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của công ty.
Họ đã thu thập nhóm mẫu các công ty ở Mỹ để nghiên cứu trong giai đoạn 1971 - 1994. Họ nhận thấy rằng các doanh nghiệp có cơ hội phát triển mạnh mẽ và rủi ro hơn trong việc nắm giữ tiền mặt khi 5 tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản cao. Các công ty có sự tiếp cận tốt nhất trên thị trường vốn (ví dụ, các công ty lớn và có xếp hạng tín dụng) có xu hướng nắm giữ tiền mặt trên tổng tài sản thấp hơn. Afza và Adnan (2007) nghiên cứu về những yếu tố của việc nắm giữ tiền mặt trong các công ty cổ phần ở Pakistan.
Afza và Adnan thu thập mẫu gồm 205 công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 1998 - 2005. Nghiên cứu của họ cho thấy rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn hơn có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để tạo một điểm tựa an toàn cho các hoạt động của công ty được trôi chảy. Kết quả nghiên cứu của Afza và Adnan (2007) cũng cho thấy rằng các công ty nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để tài trợ cho việc đầu tư và tránh tình trạng thiếu tính thanh khoản trong trường hợp dòng tiền biến động phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng của Myers. Gill và Mathur (2011) nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ các tài sản thanh khoản của các công ty ở Canada.
Họ đã thu thập một mẫu gồm 164 công ty thuộc ngành công nghiêp dich vụ ở Canada được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Toronto trong thời gian 3 năm (2008 - 2010). Trong nghiên cứu của mình, Gill và Mathur (2011) sử dụng phương pháp nghiên cứu tương quan, nghiên cứu phi thực nghiệm và nghiên cứu định lượng. Gill và Mathur (2011) xem xét việc quản lý thanh khoản của các công ty với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phiếu và tính thanh khoản của công ty. Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy việc công ty nắm giữ thanh khoản có quan hệ cùng chiều với quy mô doanh nghiệp, tỉ lệ tài sản lưu động trên tổng tài sản, có quan hệ ngược chiều với nợ ngắn hạn, vốn lưu động ròng không có mối quan hệ đáng kể với tỷ suất sinh lời tài sản ROA, tổng nợ.
Usama (2012) phân tích quản lý vốn lưu động và nghiên cứu ảnh hưởng của vốn lưu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty. Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành Thực phẩm được niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi trong thời gian từ 2006 - 2010. Usama kiểm tra tác động của quy mô, kỳ trả nợ bình quân, vòng quay hàng tồn kho, tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty. Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động cùng chiều của 6 quy mô đến lợi nhuận và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của công ty.