CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Định nghĩa và danh pháp Cytochrom P450 (thường viết tắt là CYP hay P450) thuộc họ enzym monooxygenase, xúc tác cho phản ứng gắn một nguyên tử oxy từ phân tử oxy vào cơ chất, và nguyên tử oxy còn lại bị khử thành nước (Hình 1. Tên gọi “cytochrom P450” xuất phát từ cấu trúc của enzym, “cyto” là tế bào, “chrom” là màu sắc, “cytochrom” là chất có màu sắc của tế bào; chữ “P” là viết tắt của từ “Pigment” có nghĩa là sắc tố, do enzym có màu hồng đỏ; và 450 nm là bước sóng mà tại đó khi ở trạng thái khử và gắn với CO thì enzym này đạt độ hấp thụ cực đại [5], [23]. Mô hình hệ thống cytochrom P450 ở ty thể [5] Một hệ thống danh pháp thống nhất theo quy ước của Ủy ban danh pháp quốc tế, dựa trên trình tự nhận dạng acid amin, tiêu chí phát sinh loài và tổ chức gen, đã được sử dụng để phân loại và gọi tên các CYP , [64].
Theo đó, những enzym này được gọi tên bởi cụm “CYP” và một chữ cái Ả Rập chỉ họ gen (với hơn 40% độ tương đồng về trình tự acid amin) (VD: CYP1, CYP2, CYP3), một chữ cái viết hoa biểu thị phân họ (với hơn 55% độ tương đồng về trình tự acid amin) (VD: CYP1A) và một chữ số Ả Rập biểu thị gen/isoenzym/isozym/isoform đơn lẻ (VD: CYP1A1). Ví dụ CYP1A1 có nghĩa là enzyme này thuộc họ 1, phân họ A và protein 1 [39]. Vai trò và phân bố trong tự nhiên CYP gồm hơn 13000 gen đại diện cho hơn 400 họ. Trong tự nhiên, chúng được tìm thấy phổ biến ở động vật, thực vật, nấm và vi khuẩn [39].
Số lượng CYP cao nhất ở thực vật, hệ gen của người có 57 gen mã hóa cho CYP và 58 pseudogen [23], Escherichia coli và Salmonella typhimurium không có enzym CYP nào [53]. CYP được tìm thấy lần đầu tiên ở các microsom của gan động vật vào năm 1962, và được phát hiện có mặt ở màng trong ty thể của các tế bào vỏ thượng thận vào năm 1964. Những nghiên cứu diễn ra sau đó khẳng định rằng CYP có sự phân bố khác nhau giữa microsom và ty thể ở nhiều mô động vật. Ở động vật có vú, CYP có mặt ở tất cả 2 các mô, với nồng độ cao tập trung ở gan và ruột non.
Đó là các protein liên kết màng có trong các microsom của gan, và trong ty thể của các tế bào ở các mô sản sinh steroid như là vỏ thượng thận, tinh hoàn, buồng trứng, vú, nhau thai [23]. Thực vật và nấm có chứa rất nhiều CYP ở trong các microsom, một số còn được tìm thấy ở trong lục lạp, tuy nhiên chưa có bất kỳ CYP nào được phát hiện có mặt trong ty thể của chúng [64]. Ở người có 50 CYP được tìm thấy ở microsom và 7 CYP được tìm thấy ở ty thể [47]. Đối với vi khuẩn, CYP tồn tại ở dạng enzym hòa tan và có mặt trong chất nền của ty thể.
Nói chung, CYP có vai trò trong chuyển hóa các chất nội sinh và ngoại sinh, khử các độc tố gây hại cho các cơ quan. Trong cơ thể, các enzyme cytochrom P450 tham gia vào các quá trình chuyển hóa acid béo, steroid, prostaglandins, terpen, các hợp chất đa nguyên tử và dị nguyên tử. CYP cũng tham gia xúc tác cho các phản ứng biến đổi các chất ngoại sinh như thuốc, chất gây ung thư, độc tố, dung môi hữu cơ [24]. Phân loại Có nhiều cách phân loại các CYP khác nhau như: theo cơ chất mà CYP tham gia chuyển hóa [50]; theo dạng tồn tại của CYP trong tế bào [50]; theo sự phân bố trong tế bào [41].
Trong đó, cách phân loại phổ biến nhất là theo các kiểu protein vận chuyển điện tử (redox partner) tham gia vào chuỗi truyền điện tử. Để thực hiện chức năng xúc tác, đại đa số các enzyme CYP sử dụng nguồn điện tử từ cofactor NAD(P)H thông qua các thành viên của chuỗi truyền điện tử, gồm có một hoặc một vài protein vận chuyển điện tử. Do CYP rất đa dạng trong tự nhiên nên các protein vận chuyển điện tử của chúng cũng rất phong phú. Dựa trên các kiểu protein vận chuyển điện tử tham gia vào chuỗi truyền điện tử, Hannemann và cộng sự đã phân loại CYP thành 10 nhóm khác nhau (Bảng 1.
Cấu trúc CYP là các hemoproteins có cấu trúc gồm một nhân hem ở dạng Fe protoporfirin IX (Hình 1.2) và một chuỗi polypeptid có chứa 400 – 500 gốc acid amin. Nhân hem ở dạng Fe protoporfirin IX của cytochrom P450 3 Bảng 1. Phân loại cytochrom P450 dựa trên các protein thành phần tham gia vào chuỗi truyền điện tử [23] Nhóm Nguồn gốc Chuỗi truyền điện tử Vị trí, dạng tồn tại NAD(P)H–>[FdR]–> Tế bào chất, hòa tan Vi khuẩn [Fdx]a–> [P450] P450: màng trong ty thể 1 NADPH–>[FdR]–> FdR: liên kết màng Ty thể [Fdx]–> [P450] Fdx: chất nền ty thể, hòa tan NADH–>[CPR]–> Tế bào chất, hòa tan; Vi khuẩn [P450] Streptomyces carbophilus NADPH–>[CPR]–> Microsomal A Gắn màng, ER [P450] 2 NADPH–>[CPR]–> Microsomal B Gắn màng, ER [cytb5]–> [P450] NADH–> [cytb5Red] Microsomal C Gắn màng, ER –> [cytb5]–> [P450] NAD(P)H–>[FdR]–> Tế bào chất, hòa tan, Citrobacter 3 Vi khuẩn [Fldx]–> [P450] braakii Pyruvat,CoA–> Tế bào chất, hòa tan, Sulfolobus 4 Vi khuẩn [OFOR]–>[Fdx]–> tokadaii [P450] NADH–> [FdR] Tế bào chất, hòa tan, 5 Vi khuẩn –>[Fdx – P450] Methylococcus capsulatus NAD(P)H–>[FdR] Tế bào chất, hòa tan, 6 Vi khuẩn –>[Fldx – P450] Rhodococcus rhodochrous 11Y NADH–> Tế bào chất, hòa tan, Rhdococcus 7 Vi khuẩn sp NCIMB 9784, Burkholderia [PFOR – P450] sp., Ralstonia metallidurans NADPH–> Tế bào chất, hòa tan, Bacillus 8 Vi khuẩn, nấm [CPR – P450] megaterium, Fusarium oxysporum Chỉ sinh vật Tế bào chất, hòa tan, Fusarium 9 phụ thuộc NADH–> [P450] oxysporum NADH, nấm Sinh vật có hệ 10 vận chuyển [P450] Gắn màng, ER độc lập Chú thích: Fdx, Ferredoxin; FdR, Ferredoxin reductase (FAD); CPR, cytochrom P450 reductase (FAD, FMN); Fldx, Flavodoxin (FMN); OFOR, 2- oxoacid ferredoxin oxidoreductase (thiamin pyrophosphate, [4Fe-4S] cluster); PFOR, phthatate-family oxygenase reductase (FMN, [2Fe-2S] cluster). a Fdx có chứa nhóm Fe – S như là [2Fe-2S], [3Fe-4S], [4Fe-4S], [3Fe-4S]/[4Fe-4S].
4 Cấu trúc bậc I: Cấu trúc bậc I của protein là trình tự tất cả các acid amin trong phân tử, được sắp xếp thành chuỗi trong không gian hai chiều. Mặc dù trình tự acid amin giữa các CYP từ các họ khác nhau có sự tương đồng không quá 20%, nhưng tới năm 2006, có 3 vùng cấu trúc đã được xác định là bảo tồn chặt chẽ trong trình tự của tất cả các CYP có trong cơ sở dữ liệu chung. Phần cố định đầu tiên là phối tử Cys liên kết trục với Fe của nhân hem. Phối tử Cys này nằm trên một trình tự được coi là “chữ ký” nhận biết của CYP, gồm 10 acid amin FxxGxxxCxG, trong đó x là gốc acid amin bất kỳ, F là phenylalanin, G là glycine và C là cystein.
Về nguyên tắc thì các vị trí x có thể là bất kỳ acid amin nào, nhưng thực tế nhiều nghiên cứu chứng minh các vị trí đó chỉ là một số acid amin xác định. Trình tự bảo tồn khác là Glu và Arg cùng nhau tạo nên mô – típ EXXR được tìm thấy ở chuỗi xoắn K- helix. Ngoài ra, còn có hai vùng cấu trúc được bảo tồn cao ở CYP mặc dù không thực sự quan trọng là phân tử Thr ở chuỗi I – helix và phân tử Gly nằm cách phân tử Cys cố định 4 phân tử theo chiều ngược dòng [53]. Cấu trúc bậc II: Cấu trúc bậc 2 của CYP gồm cả xoắn α (α-helix) và gấp nếp β (β-strand).
Hiện nay đã có một số lượng lớn cấu trúc CYP từ sinh vật nhân thực, vi khuẩn, vi khuẩn cổ, đủ để khẳng định rằng tất cả CYP có cấu trúc bậc II và bậc III tương tự nhau, thậm chí cả ở những isozym mà trình tự nhận dạng giống nhau rất ít. Tức là sự sắp xếp và cuộn gấp của chuỗi polypeptid là tương đối giống nhau ở CYP của tất cả các họ. Những vùng cấu trúc bảo tồn trong cấu trúc bậc ba của CYP [14] ( SRS – Substrate recognition sequence là vùng trình tự nhận diện cơ chất, có màu đen; các vùng xoắn α – helix được ký hiệu bằng chữ cái in hoa) Cấu trúc bậc III: Cấu trúc bậc III của cytochrom P450 đặc trưng bởi cấu trúc, sự sắp xếp của nhân hem và chuỗi polypeptid trong không gian ba chiều. 5 Cấu trúc lõi được bảo tồn của CYP được tạo nên bởi một bó gồm 4 chuỗi xoắn α, bao gồm: 3 chuỗi xoắn song song D, L và I – helix và một chuỗi xoắn ngược E – helix (Hình 1.
Nhân hem nằm giữa chuỗi xoắn I – helix xa và L – helix gần, và được gắn với vòng xoắn có chứa phối tử Cys, mang trình tự acid amin đặc trưng của CYP. Phân tử cystein là phối tử thứ 5 của nguyên tử sắt hem, được bảo tồn hoàn toàn [14]. Trung tâm hoạt động của CYP chứa Fe protoporphyrin IX. Nguyên tử Fe3+ của nhân hem có thể tồn tại ở hai trạng thái spin, spin thấp (LS) khi mà 5 electron ở phân lớp 3d được ghép đôi tối đa, và trạng thái spin cao (HS) khi 5 electron ở phân lớp 3d đều ở trạng thái tự do.
Dữ liệu quang phổ, NMR, hình ảnh tinh thể học cho thấy phân tử nước là phối tử thứ 6 tạo liên kết trục với Fe3+ của nhân hem khi enzym ở trạng thái tự do không gắn với cơ chất, có vai trò giữ nguyên tử Fe này bền vững ở trạng thái spin thấp. Khi cơ chất gắn với enzym, liên kết giữa phân tử nước và nguyên tử Fe3+ bị phá vỡ, Fe3+ từ trạng thái liên kết với 6 phối tử chuyển thành dạng liên kết với 5 phối tử, do đó Fe3+ không còn giữ được vị trí ở trên mặt phẳng của nhân hem, và vì vậy cấu trúc của enzym bị thay đổi [39]. Mặc dù có những vùng được bảo tồn cao và giống nhau ở tất cả các CYP, nhưng sự đa dạng về cấu trúc vẫn đủ để đảm bảo khả năng gắn của các CYP khác nhau với các cơ chất đặc trưng khác nhau. Đặc điểm xúc tác Cytochrom P450 xúc tác cho phản ứng oxy hóa cơ chất bằng cách hoạt hóa một phân tử O2, sau đó chuyển một nguyên tử oxy đã được hoạt hóa vào cơ chất, nguyên tử oxy còn lại bị khử thành nước.
Cơ chế của phản ứng này đã được Coon và cộng sự tìm ra và mô tả chi tiết vào năm 1980 [65]. Một phản ứng điển hình được xúc tác bởi CYP là: RH + O2 +2e- + 2H+ ------> ROH +H2O CYP thực hiện hoạt động xúc tác của mình thông qua một chuỗi các phản ứng riêng lẻ, gồm (Hình 1.