Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tội phạm về ma túy là một trong những loại tội phạm nguy hiểm, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người (hệ tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, suy nhược cơ thể, suy giảm sức lao động) và là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác làm mất trật tự an toàn xã hội. Cao Bằng là tỉnh miền núi địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc, cách Hà Nội 286 km, có tiềm năng về du lịch và khai thác khoáng sản nhưng địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn và đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, còn nhiều thiếu thốn. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, bên cạnh những thành tựu kinh tế - xã hội, địa phương cũng đối mặt với nhiều hệ lụy như thất nghiệp, tệ nạn xã hội và sự gia tăng của các loại tội phạm. Đặc biệt, sau dịch bệnh COVID-19, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh có xu hướng phức tạp trở lại. Trong giai đoạn 2018 – 2022, Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp tỉnh Cao Bằng đã đưa ra xét xử sơ thẩm 1.470 vụ án với 1.990 bị cáo phạm các tội về ma túy. Mặc dù cấp ủy, chính quyền đã triển khai nhiều giải pháp, hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh vẫn chưa đạt kết quả mong muốn. Do đó, tác giả Hoàng Thị Nga thực hiện khóa luận tốt nghiệp "Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022" tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) nhằm phản ánh toàn diện bức tranh tội phạm này.

Mục đích nghiên cứu cuối cùng của khóa luận là làm rõ bức tranh thực tế về các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022. Để đạt được mục đích đó, khóa luận xác định 02 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và đánh giá thực trạng của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022 (xét trên phương diện mức độ và tính chất).
  2. Phân tích và đánh giá diễn biến của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022 (xét trên phương diện mức độ và tính chất).

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tình hình các tội phạm về ma túy, tập trung chuyên sâu vào thực trạng và diễn biến của nhóm tội phạm này. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp cận dưới góc độ Tội phạm học tại không gian địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giới hạn thời gian từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết từ Giáo trình Tội phạm học (Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2022), bao gồm các định nghĩa nền tảng:

  • Thực trạng của tội phạm: Là tình trạng thực tế hiện có của tội phạm trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và tính chất.
  • Tội phạm rõ: Tổng số tội phạm (thể hiện qua số vụ phạm tội và số bị cáo) đã xảy ra trên thực tế, đã bị phát hiện và xử lý về hình sự.
  • Tội phạm ẩn: Các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.
  • Diễn biến của tội phạm: Sự thay đổi thực trạng của tội phạm xét về mức độ và tính chất theo thời gian trong đơn vị thời gian xác định.

Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành liên quan đến nhóm tội phạm ma túy, cụ thể gồm: Điều 247 (Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy); cùng Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất (trong đó có chất ADB-BUTINACA thuộc Danh mục IIC). Tác giả cũng tổng thuật các công trình nghiên cứu trước đây như sách chuyên khảo "Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới" (Nguyễn Xuân Yêm, Trần Văn Luyện, 2002), luận án tiến sĩ của Nguyễn Tuyết Mai, Đỗ Thành Trường (2017), và các luận văn thạc sĩ của Nông Thiện Doanh (2014), Lương Thị Vũ Hằng (2018), Nguyễn Đức Anh (2021).

Khóa luận được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tội phạm học:

  • Phương pháp tiếp cận định lượng, tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận.
  • Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: Lựa chọn nghiên cứu thực nghiệm nội dung 150 bản án hình sự sơ thẩm với 186 bị cáo từ TAND hai cấp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
  • Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu, chứng minh giả thuyết, thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp và so sánh đối chiếu.
  • Phương pháp tính toán các chỉ số tội phạm: Chỉ số tội phạm (TP) = $(Số\ vụ / Dân\ số) \times 100$; Chỉ số người phạm tội (NPT) = $(Số\ người\ phạm\ tội \times 100.000) / Dân\ số$.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê chính thức từ TAND tỉnh Cao Bằng (1.470 vụ/1.990 bị cáo), số liệu thống kê của TAND Tối cao, Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng và Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thực trạng của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022

Chương 1 đi sâu phân tích thực trạng tội phạm ma túy trên hai bình diện: mức độ và tính chất (thể hiện qua cơ cấu).

1. Thực trạng về mức độ của các tội phạm về ma túy:

  • Tội phạm rõ: Trong giai đoạn 2018 – 2022, TAND các cấp tỉnh Cao Bằng đã xét xử sơ thẩm 1.470 vụ án với 1.990 bị cáo phạm các tội về ma túy, trung bình mỗi năm xảy ra 294 vụ và 398 bị cáo. Số liệu qua các năm: Năm 2018 (218 vụ/287 bị cáo), năm 2019 (292 vụ/388 bị cáo), năm 2020 (263 vụ/370 bị cáo), năm 2021 (350 vụ/458 bị cáo), năm 2022 (347 vụ/487 bị cáo).
  • So sánh với tội phạm nói chung: Tội phạm ma túy chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tội phạm trên địa bàn tỉnh, chiếm 42,4% về số vụ án (1.470/3.465 vụ) và 35,2% về số bị cáo (1.990/5.652 bị cáo).
  • So sánh với các nhóm tội phạm khác: Tội phạm ma túy là nhóm tội phạm phổ biến nhất tại Cao Bằng, cao hơn đáng kể so với nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu (902 vụ - 26,0%; 1.166 bị cáo - 20,6%), tội phạm xâm phạm trật tự trị an và quản lý hành chính (489 vụ - 14,1%; 1.496 bị cáo - 26,5%), và tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm (276 vụ - 8,0%; 369 bị cáo - 6,5%).
Nhóm tội phạm Số vụ Tỷ lệ % số vụ Số bị cáo Tỷ lệ % số bị cáo
Tội phạm về ma túy 1.470 42,4% 1.990 35,2%
Tội phạm xâm phạm sở hữu 902 26,0% 1.166 20,6%
Tội phạm xâm phạm trật tự trị an, QLHC 489 14,1% 1.496 26,5%
Tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe 276 8,0% 369 6,5%
Các nhóm tội còn lại 328 9,5% 631 11,2%
Tổng cộng 3.465 100% 5.652 100%
  • So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội với toàn quốc: Dân số trung bình của Cao Bằng là 535.158 người (chiếm 0,55% dân số cả nước). Chỉ số TP trung bình giai đoạn 2018 – 2022 của Cao Bằng là 54,7 (toàn quốc là 26,7 – Cao Bằng cao gấp 2,05 lần); Chỉ số NPT của Cao Bằng là 74,1 (toàn quốc là 40,08 – Cao Bằng cao gấp 1,85 lần).
  • Tội phạm ẩn: Khóa luận khẳng định tỷ lệ tội phạm ẩn về ma túy trên địa bàn tỉnh rất cao dựa trên 3 cơ sở thực tế:
    1. Nhu cầu sử dụng của 1.918 người nghiện có hồ sơ quản lý ước tính tiêu thụ khoảng 28 kg Heroin/năm (nếu tính 2 tép/ngày = 0,04g). Tuy nhiên, lượng Heroin cơ quan chức năng thu giữ trung bình mỗi năm chỉ đạt 7,3 kg (36,5 kg trong 5 năm), mới đáp ứng được 26,07% nhu cầu, đồng nghĩa 73,93% lượng ma túy tiêu thụ chưa bị phát hiện, bắt giữ.
    2. Tình trạng trồng cây thuốc phiện: Cơ quan chức năng đã triệt phá trên 1.300 m² và hơn 5.000 cây thuốc phiện nhưng chỉ xét xử được 04 vụ với 12 bị cáo theo Điều 247 BLHS, phần lớn diện tích còn lại không xác định được đối tượng vi phạm.
    3. Nhiều đường dây ma túy lớn trung chuyển qua địa bàn sang Trung Quốc chưa bị bóc gỡ triệt để.

2. Thực trạng về tính chất của các tội phạm về ma túy (qua cơ cấu):

  • Cơ cấu theo tội danh (1.990 bị cáo): Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) chiếm tỷ lệ cao nhất với 1.309 bị cáo (65,8%); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS) đứng thứ hai với 636 bị cáo (31,9%); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS) có 16 bị cáo (0,8%); Tội trồng cây có chứa chất ma túy (Điều 247 BLHS) có 12 bị cáo (0,6%); Các tội ma túy khác có 17 bị cáo (0,9%).
  • Cơ cấu theo địa bàn phạm tội (nghiên cứu 150 vụ/186 bị cáo): Tội phạm tập trung nhiều nhất tại Thành phố Cao Bằng (27 vụ - 18,0%; 36 bị cáo - 19,4%), huyện Trùng Khánh (26 vụ - 17,3%; 32 bị cáo - 17,2%), huyện Hạ Lang (23 vụ - 15,3%; 28 bị cáo - 15,1%), huyện Hòa An (20 vụ - 13,3%; 23 bị cáo - 12,4%), Bảo Lâm (14 vụ - 9,3%), Quảng Uyên (13 vụ - 8,7%), Hà Quảng (9 vụ - 6,0%), Nguyên Bình (8 vụ - 5,4%), Bảo Lạc (7 vụ - 4,7%), Thạch An (3 vụ - 2,0%). Tội phạm tập trung chủ yếu ở nơi đông dân cư và các huyện biên giới giáp Trung Quốc.
  • Cơ cấu theo loại chất ma túy thu giữ (150 vụ án): Heroin chiếm ưu thế tuyệt đối với 108 vụ (72,0%); Ma túy tổng hợp chiếm 24 vụ (16,0%); Loại ma túy khác (thuốc phiện, cần sa) chiếm 14 vụ (9,3%); Thu giữ nhiều loại ma túy đồng thời chiếm 4 vụ (2,7%). Điển hình là vụ án Dương Quang Đoan và Phan Trọng Hiếu tại huyện Hòa An bán thuốc lá chứa ma túy ADB-BUTINACA ("thuốc lá cười") cho học sinh THCS, cơ quan điều tra thu giữ 98,032g mẫu thực vật trong điếu trắng và 0,793g trong điếu đen (Kết luận giám định số 6056/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an).
  • Cơ cấu theo loại và mức hình phạt (1.990 bị cáo): Đến 3 năm tù: 778 bị cáo (39,1%, trong đó 14 bị cáo hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ); Trên 3 năm đến 7 năm tù: 480 bị cáo (24,2%); Trên 7 năm đến 15 năm tù: 566 bị cáo (28,4%); Trên 15 năm tù: 80 bị cáo (4,0%); Tù chung thân và tử hình: 86 bị cáo (4,3%).
  • Cơ cấu theo hình thức phạm tội (150 vụ án): Phạm tội riêng lẻ chiếm 118 vụ (78,7%); Phạm tội có đồng phạm chiếm 32 vụ (21,3%).
  • Cơ cấu theo động cơ, mục đích (186 bị cáo): Thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy: 83 bị cáo (44,6%); Động cơ vụ lợi: 73 bị cáo (39,2%); Kết hợp cả hai mục đích (vừa kiếm lời vừa sử dụng): 30 bị cáo (16,1%).
  • Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân người phạm tội:
    • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (186 bị cáo): Tỉnh Cao Bằng chiếm 129 bị cáo (69,4%); Các tỉnh ngoài chiếm 57 bị cáo (30,6%).
    • Nghề nghiệp (186 bị cáo): Không có nghề nghiệp: 88 bị cáo (47,3%); Lao động tự do (bốc vác, xe ôm, làm thuê): 71 bị cáo (38,2%); Nghề nghiệp khác: 24 bị cáo (12,9%); Cán bộ, công chức: 3 bị cáo (1,6%).
    • Lý lịch tư pháp (1.990 bị cáo): Phạm tội lần đầu chiếm 1.822 bị cáo (91,6%); Tái phạm, tái phạm nguy hiểm chiếm 168 bị cáo (8,4%). Dẫn chứng trường hợp Trần Tuấn Luân (sinh năm 1974, TP Cao Bằng) bị bắt khi tàng trữ 0,4g Heroin, có 4 tiền án (2 tiền án trộm cắp, 1 tiền án mua bán ma túy, 1 tiền án cưỡng đoạt tài sản).
    • Tình trạng nghiện (1.990 bị cáo): Người nghiện ma túy chiếm 1.175 bị cáo (59,0%); Không nghiện chiếm 815 bị cáo (41,0%).
    • Trình độ học vấn (186 bị cáo): THPT: 88 bị cáo (47,3%); THCS: 74 bị cáo (39,8%); Tiểu học: 12 bị cáo (6,5%); Cao đẳng, đại học: 10 bị cáo (5,3%); Không biết chữ: 2 bị cáo (1,1%).
    • Độ tuổi (1.990 bị cáo): Từ 30 tuổi trở lên chiếm 1.613 bị cáo (81,1%); Từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm 365 bị cáo (18,3%); Dưới 18 tuổi chiếm 12 bị cáo (0,6% - gồm 10 bị cáo từ 16 đến dưới 18 và 2 bị cáo từ 14 đến dưới 16 tuổi); Trên 75 tuổi: 0 bị cáo.
    • Giới tính (1.990 bị cáo): Nam giới chiếm 1.892 bị cáo (95,1%); Nữ giới chiếm 98 bị cáo (4,9%).
    • Dân tộc (1.990 bị cáo): Người dân tộc Kinh chiếm 1.008 bị cáo (50,7%) dù chỉ chiếm 5,12% - 5,8% dân số toàn tỉnh; Người dân tộc ít người (Tày, Nùng, H'Mông...) chiếm 982 bị cáo (49,3%) dù chiếm 94,2% dân số. Dẫn chứng Chuyên án 221C ngày 10/4/2021 tại xã Sóc Hà, Hà Quảng bắt 3 đối tượng người Mông (Vang A Ca, Hoàng Văn Sông, Hoàng Văn Sinh) vận chuyển 40 bánh Heroin sang Trung Quốc.

Chương 2: Diễn biến của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022

Chương 2 phân tích sự biến động của tội phạm ma túy theo thời gian từ năm 2018 (lấy làm mốc so sánh 100%) đến năm 2022.

1. Diễn biến về mức độ của các tội phạm về ma túy:

  • Số vụ án và số bị cáo qua 5 năm: Tội phạm ma túy tại Cao Bằng tăng mạnh cả về số vụ và số người phạm tội, đặc biệt tăng cao trong hai năm 2021 và 2022:
    • Năm 2018: 218 vụ (100%) / 287 bị cáo (100%).
    • Năm 2019: 292 vụ (133,9%) / 388 bị cáo (135,2%).
    • Năm 2020: 263 vụ (120,6%) / 370 bị cáo (128,9%).
    • Năm 2021: 350 vụ (160,6%) / 458 bị cáo (159,6%).
    • Năm 2022: 347 vụ (159,2%) / 487 bị cáo (169,7%).
Năm Số vụ ma túy % so với 2018 Số bị cáo ma túy % so với 2018 Số vụ TP nói chung % so với 2018 Số bị cáo TP nói chung % so với 2018
2018 218 100,0% 287 100,0% 526 100,0% 844 100,0%
2019 292 133,9% 388 135,2% 755 143,5% 1.062 125,8%
2020 263 120,6% 370 128,9% - - 990 117,3%
2021 350 160,6% 458 159,6% - 166,7% 1.480 175,4%
2022 347 159,2% 487 169,7% - - 1.276 151,2%
  • So sánh diễn biến với tội phạm ma túy toàn quốc: Diễn biến tội phạm ma túy tại Cao Bằng đồng pha với xu hướng toàn quốc nhưng có biên độ tăng mạnh hơn tại một số thời điểm. Năm 2021, số vụ ma túy tại Cao Bằng tăng 160,6% so với 2018 (toàn quốc tăng 136,9% với 27.319 vụ so với 19.957 vụ năm 2018). Đến năm 2022, số bị cáo ma túy tại Cao Bằng tăng 169,7% (toàn quốc tăng 166,1% với 47.280 bị cáo so với 28.458 bị cáo năm 2018).

2. Diễn biến xét về tính chất của các tội phạm về ma túy:

  • Diễn biến theo tội danh:
    • Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249): Có sự gia tăng đột biến. Năm 2018 có 52 vụ/64 bị cáo (100%); năm 2019 tăng lên 100 vụ/127 bị cáo (192,3%/198,4%); năm 2020 có 91 vụ/117 bị cáo (175%/182,8%); năm 2021 đạt đỉnh 122 vụ/166 bị cáo (234,6%/259,4%); năm 2022 duy trì ở mức cao với 119 vụ/162 bị cáo (228,8%/253,1%).
    • Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251): Tăng nhưng biên độ ổn định hơn. Năm 2018 có 162 vụ/219 bị cáo (100%); năm 2019 có 184 vụ/249 bị cáo (113,6%/113,7%); năm 2020 có 168 vụ/249 bị cáo (103,7%/113,7%); năm 2021 có 227 vụ/227 bị cáo (140,1%/103,7%); năm 2022 có 219 vụ/219 bị cáo (135,2%/100%).
  • Diễn biến theo loại chất ma túy bị thu giữ (mẫu 150 vụ):
    • Heroin: Tương đối ổn định và tăng nhẹ (2018: 17 vụ; 2019: 19 vụ; 2020: 20 vụ; 2021: 28 vụ; 2022: 24 vụ).
    • Ma túy tổng hợp: Tăng mạnh từ năm 2020 (2018: 2 vụ = 100%; 2019: 2 vụ; 2020: 6 vụ = 300%; 2021: 8 vụ = 400%; 2022: 6 vụ = 300%). Điều này phản ánh rõ nét sự chuyển dịch cơ cấu từ ma túy truyền thống sang các loại ma túy tổng hợp mới (Ketamine, Methamphetamine, "thuốc lắc", ADB-BUTINACA).
  • Diễn biến theo đặc điểm dân tộc:
    • Người dân tộc ít người: Tăng liên tục trong cả giai đoạn (năm 2018: 135 bị cáo = 100%; năm 2019: 195 bị cáo = 144,4%; năm 2020: 188 bị cáo = 139,3%; năm 2021: 214 bị cáo = 158,5%; năm 2022: 223 bị cáo = 165,2%). Trong giai đoạn dịch COVID-19 (2019 – 2020), do hạn chế đi lại toàn quốc, số người dân tộc ít người tại chỗ chiếm tỷ lệ tăng cao hơn.
    • Người dân tộc Kinh: Tăng mạnh sau khi dịch bệnh được kiểm soát (năm 2018: 152 bị cáo = 100%; năm 2019: 193 bị cáo = 127%; năm 2020: 182 bị cáo = 119,7%; năm 2021: 244 bị cáo = 160,5%; năm 2022: 264 bị cáo = 173,7%).
  • Diễn biến theo tình trạng nghiện ma túy:
    • Người nghiện phạm tội: Tăng mạnh và liên tục (năm 2018: 149 bị cáo = 100%; năm 2019: 212 bị cáo = 142,3%; năm 2020: 179 bị cáo = 120,1%; năm 2021: 294 bị cáo = 197,3%; năm 2022: 326 bị cáo = 218,8%). Xu hướng này tương thích với sự gia tăng đột biến của tội tàng trữ ma túy.
    • Người không nghiện phạm tội: Biến động tương đối ổn định (năm 2018: 138 bị cáo = 100%; năm 2019: 176 bị cáo = 127,5%; năm 2020: 191 bị cáo = 138,4%; năm 2021: 164 bị cáo = 118,8%; năm 2022: 161 bị cáo = 116,7%).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022 thông qua các kết quả cụ thể:

  • Xác lập cơ sở dữ liệu thực chứng với 1.470 vụ án và 1.990 bị cáo bị xét xử sơ thẩm, kết hợp phân tích sâu 150 hồ sơ vụ án mẫu (186 bị cáo).
  • Chỉ ra các chỉ số đặc trưng: Tội phạm ma túy chiếm 42,4% số vụ và 35,2% số bị cáo toàn tỉnh. Chỉ số TP trung bình của tỉnh (54,7) cao gấp 2,05 lần và Chỉ số NPT (74,1) cao gấp 1,85 lần mức trung bình của cả nước.
  • Xác định tội Mua bán trái phép chất ma túy chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8%), trong khi tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (tăng 259,4% về số bị cáo vào năm 2021 so với năm 2018).
  • Nhận diện các đặc điểm nhân thân đặc thù: 81,1% đối tượng từ 30 tuổi trở lên; 95,1% là nam giới; 47,3% không có nghề nghiệp; 59,0% là người nghiện ma túy; người dân tộc Kinh chiếm 50,7% số bị cáo dù chỉ chiếm chưa đầy 6% dân số toàn tỉnh.
  • Khẳng định sự chuyển dịch cơ cấu ma túy từ Heroin truyền thống sang ma túy tổng hợp thế hệ mới và các sản phẩm tẩm ướp chất hướng thần nhắm vào giới trẻ.
  • Về mặt giải pháp, tác giả chỉ ra rằng việc nghiên cứu thực trạng và diễn biến là tiền đề khoa học bắt buộc để phân tích nguyên nhân, điều kiện, xây dựng dự báo tội phạm và hoạch định các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ, phòng ngừa xã hội phù hợp với điều kiện địa phương miền núi biên giới.
  • Về đóng góp khoa học, đề tài cập nhật dữ liệu mới nhất (giai đoạn 2018 – 2022) so với các nghiên cứu trước đây tại Cao Bằng (như công trình của Nông Thiện Doanh năm 2014), phản ánh đúng những biến động của tội phạm trong và sau đại dịch COVID-19.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và nguồn dữ liệu nghiên cứu:

  • Dữ liệu định tính chi tiết về một số nhóm chất ma túy và tính chất vi mô được khảo sát trên mẫu 150 bản án sơ thẩm (186 bị cáo) chọn ngẫu nhiên, do đó chưa thể phản ánh bao quát tuyệt đối mọi khía cạnh diễn biến trên toàn địa bàn.
  • Khóa luận giới hạn nghiên cứu ở góc độ tình hình tội phạm (thực trạng và diễn biến), chưa mở rộng nghiên cứu sâu về hệ thống nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm cũng như xây dựng một chương giải pháp phòng ngừa hoàn chỉnh.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình trong tương lai có thể mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về các nguyên nhân - điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù của địa bàn miền núi biên giới tác động đến hành vi phạm tội; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa tội phạm ma túy đa ngành, kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng trong nước và hợp tác quốc tế qua biên giới Việt - Trung.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị tham khảo cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm, Luật Hình sự và Tố tụng hình sự khi tìm kiếm phương pháp luận tiếp cận nghiên cứu định lượng tội phạm theo địa bàn cấp tỉnh.
  • Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Cảnh sát điều tra) và lực lượng chuyên trách phòng chống ma túy (Công an, Bộ đội Biên phòng, Hải quan) tại Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện tương đồng.
  • Cung cấp nguồn số liệu thứ cấp đáng tin cậy với 30 bảng thống kê và 27 biểu đồ minh họa chi tiết về tội phạm học.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội về ma túy tại tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022 chênh lệch như thế nào so với toàn quốc?
Chỉ số tội phạm (TP) trung bình của Cao Bằng là 54,7 (toàn quốc là 26,7 – Cao Bằng gấp 2,05 lần). Chỉ số người phạm tội (NPT) của Cao Bằng là 74,1 (toàn quốc là 40,08 – Cao Bằng gấp 1,85 lần). Dù dân số Cao Bằng chỉ chiếm khoảng 0,55% dân số cả nước, số người phạm tội ma túy của tỉnh lại chiếm trên 1% tổng số bị cáo ma túy toàn quốc.

2. Trong cơ cấu theo tội danh, hành vi phạm tội nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) chiếm tỷ lệ cao nhất với 1.309/1.990 bị cáo (chiếm 65,8%), tiếp theo là Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS) với 636 bị cáo (chiếm 31,9%).

3. Đặc điểm dân tộc của người phạm tội ma túy tại Cao Bằng có điểm gì đáng chú ý?
Dân tộc Kinh chỉ chiếm khoảng 5,12% - 5,8% dân số toàn tỉnh Cao Bằng nhưng lại chiếm tới 50,7% tổng số người phạm tội ma túy (1.008/1.990 bị cáo), do tập trung sinh sống tại khu vực đô thị, thị trấn - nơi có nhiều điểm nóng về ma túy. Người dân tộc ít người chiếm 94,2% dân số tỉnh và chiếm 49,3% tổng số bị cáo (982 bị cáo).

4. Sự chuyển dịch loại chất ma túy bị thu giữ tại Cao Bằng trong giai đoạn nghiên cứu diễn ra như thế nào?
Heroin vẫn là chất ma túy phổ biến nhất (chiếm 72% số vụ trong mẫu khảo sát), tuy nhiên số vụ thu giữ ma túy tổng hợp (ma túy đá, thuốc lắc, Ketamine, ADB-BUTINACA) có xu hướng tăng vọt từ năm 2020 đến 2022 (tăng 300% đến 400% so với năm 2018), phản ánh sự thay đổi phương thức và loại chất hướng tới thanh thiếu niên.

5. Tác giả dựa vào những căn cứ nào để nhận định tội phạm ẩn về ma túy tại Cao Bằng còn ở mức cao?
Tác giả dựa vào 3 căn cứ: (1) Lượng Heroin thu giữ trung bình (7,3 kg/năm) mới đáp ứng 26,07% nhu cầu tiêu thụ ước tính (~28 kg/năm) của 1.918 người nghiện có hồ sơ quản lý, còn 73,93% chưa bị phát hiện; (2) Cơ quan chức năng đã phá nhổ trên 1.300 m² và hơn 5.000 cây thuốc phiện nhưng chỉ xử lý hình sự được 4 vụ/12 bị cáo; (3) Tình trạng ma túy trung chuyển số lượng lớn qua biên giới sang Trung Quốc còn phức tạp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Nga đã phác họa một cách hệ thống, khách quan thực trạng và diễn biến của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2018 – 2022 dưới góc độ Tội phạm học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tội phạm ma túy tại Cao Bằng luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu tội phạm chung, có chỉ số phạm tội cao gấp đôi bình quân cả nước và đang có chiều hướng gia tăng phức tạp cả về tội danh tàng trữ lẫn sự xuất hiện của các loại ma túy tổng hợp mới. Toàn bộ các phát hiện và hệ thống số liệu thực chứng trong công trình cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách đấu tranh và phòng ngừa tội phạm ma túy tại địa bàn vùng cao biên giới trong giai đoạn tiếp theo.