Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tệ nạn và tội phạm ma túy là hiểm họa đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy thoái đạo đức, phá hoại hạnh phúc gia đình và trật tự an toàn xã hội, đồng thời là tác nhân trực tiếp thúc đẩy sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS và làm gia tăng nhiều loại tội phạm bạo lực, tham nhũng. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy tại Việt Nam cho thấy phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, liều lĩnh, có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng trong nước và quốc tế, hình thành các đường dây xuyên quốc gia với quy mô lớn.
Trước bối cảnh đó, các quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 về việc gộp chung 04 hành vi (tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt) vào một tội danh đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa phản ánh đúng tính chất nguy hiểm độc lập của từng hành vi. Để đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã tách riêng hành vi mua bán thành "Tội mua bán trái phép chất ma túy" quy định độc lập tại Điều 251. Nhằm làm sáng tỏ các điểm mới và tháo gỡ vướng mắc trong áp dụng pháp luật, tác giả Nguyễn Thị Linh Chi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn định tội danh, xét xử tội mua bán trái phép chất ma túy, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện BLHS và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, khóa luận xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm và ý nghĩa của tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm và dấu hiệu định khung hình phạt tại Điều 251 BLHS năm 2015.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử tội mua bán trái phép chất ma túy của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và thực tiễn định tội danh, xét xử các vụ án liên quan đến tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống quy định pháp lý, các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo BLHS hiện hành, đồng thời phân tích các số liệu thực tiễn xét xử toàn quốc và các bản án sơ thẩm cụ thể giai đoạn 2020–2023 nhằm chỉ ra tồn tại, bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận dựa trên phương pháp luận Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn được sử dụng làm nền tảng đối chiếu gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 8).
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với trọng tâm là Điều 251 và các điều luật liên quan (Điều 12, 17, 21, 249, 250, 252, 253, 352).
- Các văn bản lịch sử: BLHS năm 1985 (Điều 96a, 97, 166, 203, Chương VIIa), BLHS năm 1999 (Điều 194); Sắc lệnh số 47/SL (1945), Nghị định số 150/TTg (1952), Nghị định số 255/TTg (1952), Nghị định số 580/TTg (1955), Thông tư số 635/VHH-HS và 33/VHH-HS (1958) của Bộ Tư pháp, Nghị quyết ngày 02/7/1976 của Quốc hội, Nghị định số 26/CP (1977), Pháp lệnh năm 1982.
- Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 và Luật Phòng, chống ma túy năm 2001.
- Nghị định số 19/2018/NĐ-CP (hướng dẫn tính tổng khối lượng/thể tích chất ma túy), Nghị định số 73/2018/NĐ-CP và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP (quy định danh mục chất ma túy và tiền chất).
- Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP và Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu, so sánh luật học, quy nạp, diễn dịch và phương pháp nghiên cứu hồ sơ, bản án hình sự thực tế. Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các giáo trình luật hình sự (Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kiểm sát Hà Nội), các công trình bình luận khoa học (tác giả Đinh Văn Quế, Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng, Phạm Mạnh Hùng), các luận văn thạc sĩ chuyên ngành, báo cáo tổng kết năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao, báo cáo của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C04) và các bản án hình sự sơ thẩm của TAND các cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tội mua bán trái phép chất ma túy
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về tội danh thông qua việc phân tích khái niệm chất ma túy, hành vi mua bán trái phép chất ma túy và lịch sử phát triển pháp luật hình sự Việt Nam qua từng thời kỳ. Tác giả tổng hợp các định nghĩa khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1998), Liên Hợp Quốc và định nghĩa pháp lý tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021: chất ma túy gồm chất gây nghiện và chất hướng thần nằm trong danh mục do Chính phủ ban hành. Ma túy được phân loại theo nguồn gốc (tự nhiên, bán tổng hợp, tổng hợp), theo mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng (hiệu lực cao như heroin, cocain; hiệu lực thấp như diazepam, cordiazepam) và theo hình thái tồn tại (thể rắn, thể lỏng, nguồn gốc thực vật).
Từ quy định của BLHS, tác giả đưa ra khái niệm: "Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bán, trao đổi trái phép chất ma túy cho người khác, hoặc hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức cho người khác trong việc bán, trao đổi chất ma túy mà không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có, được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước".
Về lịch sử lập pháp, tác giả chia quá trình hình thành quy định qua 03 giai đoạn:
- Giai đoạn từ năm 1945 đến trước BLHS năm 1985: Từ các văn bản ban đầu như Sắc lệnh 47/SL, Nghị định 150/TTg, 255/TTg, 580/TTg đến Thông tư 635/VHH-HS và 33/VHH-HS năm 1958 xử lý buôn lậu thuốc phiện (mức phạt từ 03 tháng đến trên 05 năm tù, người cầm đầu từ 05 đến 10 năm tù). Sau năm 1975 thống nhất đất nước, Pháp lệnh năm 1982 quy định mức phạt rất nặng đối với buôn bán ma túy dưới góc độ tội buôn lậu, hàng cấm.
- Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước BLHS năm 1999: BLHS 1985 ban đầu chỉ xử lý qua Điều 97 (buôn lậu qua biên giới), Điều 166 (buôn bán hàng cấm) và Điều 203 (tổ chức sử dụng). Luật sửa đổi năm 1989 bổ sung Điều 96a thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Luật sửa đổi năm 1997 lần đầu tiên tách thành Chương VIIa gồm 14 điều, trong đó Điều 185đ quy định Tội mua bán trái phép chất ma túy với 04 khung hình phạt, định lượng cụ thể từng chất và bổ sung hình phạt bổ sung quản chế, cấm cư trú.
- Giai đoạn từ BLHS năm 1999 đến trước BLHS năm 2015: Điều 194 BLHS 1999 gộp 04 tội độc lập thành một tội danh chung, tuy giảm bớt số lượng tội danh có án tử hình nhưng lại tạo ra vướng mắc lớn do định lượng và tính chất nguy hiểm của 04 hành vi rất khác nhau.
Chương 2: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Chương 2 đi sâu phân tích 04 yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống các tình tiết định khung hình phạt tại Điều 251 BLHS năm 2015:
- Khách thể của tội phạm: Khách thể trực tiếp là chế độ độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước; khách thể gián tiếp là trật tự an toàn xã hội, sức khỏe và tính mạng con người. Đối tượng tác động là chất ma túy (gây nghiện, hướng thần). Khóa luận lưu ý tiền chất ma túy không thuộc đối tượng tác động của Điều 251 mà thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 253 BLHS.
- Chủ thể của tội phạm: Là thể nhân có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm theo khoản 1 Điều 12 BLHS. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; do đó nhóm tuổi này không chịu TNHS theo khoản 1 Điều 251 (tội phạm nghiêm trọng, khung phạt 02–07 năm tù) mà chỉ chịu TNHS khi rơi vào các trường hợp tăng nặng tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 251.
- Mặt khách quan của tội phạm: Nhà làm luật sử dụng phương pháp liệt kê bao gồm 07 dạng hành vi: bán trái phép cho người khác; mua ma túy nhằm bán trái phép; xin ma túy nhằm bán trái phép; dùng ma túy trao đổi/thanh toán trái phép; dùng tài sản đổi lấy ma túy nhằm bán lại; tàng trữ nhằm bán; vận chuyển nhằm bán. Tội phạm có cấu thành hình thức; chỉ cần thực hiện hành vi khách quan mà không đòi hỏi hậu quả vật chất xảy ra hay giao dịch đã hoàn tất. Tác giả minh họa qua vụ án Đặng Lê Hưng Thịnh tại TP. Bà Rịa (05/5/2020) và vụ dùng 01 cân thuốc phiện gán nợ 40.000.000 đồng giữa Đoàn Văn D và Hoàng Thế Q (23/10/2018).
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích phạm tội là nhằm bán lại để thu lợi nhuận hoặc lợi ích vật chất/phi vật chất khác; mục đích là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội mua bán với tội tàng trữ hoặc vận chuyển.
Khóa luận phân tích chi tiết các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 251 gắn với các án lệ, bản án sơ thẩm thực tế:
- Phạm tội có tổ chức (điểm a khoản 2);
- Phạm tội 02 lần trở lên (điểm b khoản 2 - minh họa bằng vụ H.V.T bán 0,064g Heroin tại Bản án số 78/2022/HS-ST ngày 23/10/2022 của TAND huyện Bảo Lâm, Cao Bằng);
- Đối với 02 người trở lên (điểm c khoản 2 - điểm mới của BLHS 2015, minh họa bằng vụ Nguyễn Ngọc X bán cho 02 người tại Bản án số 131/2022/HS-ST ngày 15/9/2022 của TAND TP. Móng Cái, Quảng Ninh);
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn và Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức (điểm d, đ khoản 2);
- Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi (điểm e khoản 2 - sửa đổi từ cụm từ "trẻ em", minh họa bằng vụ Trần Văn Q nhờ Lê Hoài N sinh ngày 12/7/2006 giao ma túy đá tại Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 20/04/2022 của TAND huyện Cư M'gar, Đắk Lắk);
- Qua biên giới (điểm g khoản 2 - vụ Sùng Cả D vận chuyển ma túy từ Lào về tại Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 11/11/2020 của TAND huyện Mường Lát, Thanh Hóa);
- Tái phạm nguy hiểm (điểm h khoản 2 - vụ Lê Minh L tại Bản án số 175/2023/HS-ST ngày 19/4/2023 của TAND TP. Thanh Hóa).
Bên cạnh đó, tác giả hệ thống hóa định lượng các nhóm chất ma túy ở thể rắn và thể lỏng để xác định khung hình phạt:
| Nhóm chất ma túy |
Khung 2 (Phạt tù 07 - 15 năm) |
Khung 3 (Phạt tù 15 - 20 năm) |
Khung 4 (Tù 20 năm, Chung thân, Tử hình) |
| Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca |
500g đến dưới 01kg |
01kg đến dưới 05kg |
Từ 05kg trở lên |
| Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11 |
05g đến dưới 30g |
30g đến dưới 100g |
Từ 100g trở lên |
| Lá cây côca, lá khát, lá/rễ/thân/cành/hoa/quả cần sa |
10kg đến dưới 25kg |
25kg đến dưới 75kg |
Từ 75kg trở lên |
| Quả thuốc phiện khô / Quả thuốc phiện tươi |
Khô: 50kg đến dưới 200kg Tươi: 10kg đến dưới 50kg |
Khô: 200kg đến dưới 600kg Tươi: 50kg đến dưới 150kg |
Khô: Từ 600kg trở lên Tươi: Từ 150kg trở lên |
| Chất ma túy khác ở thể rắn / thể lỏng |
Rắn: 20g đến dưới 100g Lỏng: 100ml đến dưới 250ml |
Rắn: 100g đến dưới 300g Lỏng: 250ml đến dưới 750ml |
Rắn: Từ 300g trở lên Lỏng: Từ 750ml trở lên |
| Hỗn hợp từ 02 chất ma túy trở lên |
Tính tổng tỷ lệ % theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP |
Tính tổng tỷ lệ % theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP |
Tính tổng tỷ lệ % theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP |
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội mua bán trái phép chất ma túy
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích những kết quả tích cực, các vụ án lớn, chỉ ra vướng mắc pháp lý và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện.
Về kết quả đạt được, việc tách tội danh độc lập tại Điều 251 BLHS 2015 đã giúp các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng định tội và cá thể hóa hình phạt. Công tác xét xử hình sự nói chung và tội phạm ma túy nói riêng bảo đảm nghiêm minh, đúng pháp luật, không xảy ra oan sai. Tác giả dẫn chứng số liệu công tác phòng chống ma túy và xét xử năm 2022:
| Chỉ tiêu / Lực lượng |
Số liệu thực tế năm 2022 |
| Công tác xét xử của hệ thống Tòa án |
Thụ lý 93.452 vụ / 178.330 bị cáo; đã giải quyết 91.312 vụ / 171.924 bị cáo (đạt tỷ lệ 97,71% về số vụ và 96,41% về bị cáo, vượt 7,71% so với chỉ tiêu). |
| Kết quả đấu tranh toàn quốc |
Đấu tranh thành công gần 24.000 vụ, bắt giữ hơn 36.000 đối tượng; thu giữ 741 kg heroin, 105 kg thuốc phiện, 268 kg cần sa, 4,7 tấn ma túy tổng hợp, 202 khẩu súng, 496 tỷ đồng; khởi tố mới gần 23.000 vụ / 31.000 bị can; bắt 363 đối tượng truy nã. |
| Kết quả của Cục C04 |
Khám phá 78 vụ, bắt giữ 282 đối tượng; thu giữ hơn 118 kg heroin, 6 kg thuốc phiện, gần 1 tấn ma túy tổng hợp; khởi tố mới 08 vụ với 67 bị can. |
| Chuyên án điển hình (Chuyên án 322C ngày 13/9/2022) |
Bắt giữ 34 đối tượng, cầm đầu là Vũ Hoàng Oanh (Oanh Hà); thu giữ 131 kg ma túy tổng hợp; làm rõ đường dây mua bán, vận chuyển 1,6 tấn ma túy từ nước ngoài về Việt Nam và đi nước thứ ba. |
| Hiện tượng ma túy trôi dạt vùng biển miền Trung (14/11 - 05/12/2022) |
Thu giữ gần 80 kg ma túy tổng hợp (chủ yếu là Ketamine) đóng gói trong túi trà in chữ Trung Quốc và bao xác rắn in chữ Thái Lan tại các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận. |
Về khó khăn, vướng mắc, khóa luận chỉ rõ tồn tại lớn nhất hiện nay là việc phân định tội danh giữa Tội tàng trữ (Điều 249) và Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251). Thực tiễn phát sinh trường hợp bị can thừa nhận tàng trữ ma túy nhằm mục đích "ai mua thì bán", nhưng cơ quan tố tụng không xác định được người mua cụ thể, dẫn đến xung đột quan điểm: xử lý về tội tàng trữ hay tội mua bán; hoặc trường hợp đã bán 01 lần và còn giữ lại 0,1g heroine để bán tiếp thì có xử lý thêm tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" hay thu hút toàn bộ vào một tội danh. Nguyên nhân chính là do thiếu văn bản quy phạm pháp luật dưới luật mới thay thế Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT để hướng dẫn cụ thể các quy định mới của BLHS năm 2015.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về cấu thành tội phạm và dấu hiệu định khung của Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 BLHS năm 2015. Tác giả đã làm rõ cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các nhóm chủ thể (đặc biệt là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi), cơ chế xác định cấu thành hình thức của tội danh, cũng như phương pháp tính tỷ lệ phần trăm quy đổi khối lượng/thể tích khi đối tượng tàng trữ, mua bán đồng thời nhiều chất ma túy khác nhau theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP.
Giải pháp và kiến nghị
Trên cơ sở phân tích bất cập thực tiễn, khóa luận đề xuất 02 nhóm giải pháp trọng tâm:
-
Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Hoàn thiện quy định pháp luật về khái niệm tội phạm ma túy và hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong luật thực định.
- Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất về định tội danh, làm rõ ranh giới giữa hành vi tàng trữ và mua bán trong trường hợp cất giữ ma túy nhằm mục đích bán nhưng chưa tìm được người mua.
- Hoàn thiện quy định về giám định hàm lượng và cách tính tổng khối lượng, thể tích các chất ma túy mới xuất hiện.
-
Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng xét xử:
- TAND Tối cao, VKSND Tối cao và Bộ Công an cần sớm ban hành Thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT để hướng dẫn thi hành các điều luật về tội phạm ma túy trong BLHS năm 2015.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho hệ thống Tòa án các cấp.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán chuyên trách xét xử án ma túy.
- Đổi mới công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân dân khi tham gia Hội đồng xét xử các vụ án ma túy phức tạp.
Đóng góp của đề tài
So với các công trình trước đây chỉ nghiên cứu trên một địa bàn hẹp (như tỉnh Hà Nam giai đoạn 2017–2021 của Đoàn Hồng Anh, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015–2020 của Đỗ Thị Thanh, hoặc tỉnh Đắk Lắk của Nguyễn Đức Ngọc), khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Linh Chi đã cập nhật bức tranh thực tiễn xét xử toàn diện trên phạm vi cả nước với các số liệu mới nhất đến năm 2022–2023, phân tích chuyên sâu các chuyên án xuyên quốc gia đặc biệt lớn (như chuyên án 322C) và hiện tượng ma túy trôi dạt vùng biển miền Trung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự thực định và thực tiễn xét xử sơ thẩm đối với tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do giới hạn về nguồn tài liệu tiếp cận và phạm vi đề tài tốt nghiệp bậc đại học, tác giả chưa đi sâu phân tích toàn diện các giai đoạn tố tụng khác như hoạt động điều tra kỹ thuật hình sự, kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên và Luật sư tại phiên tòa. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự kết hợp với pháp luật tố tụng hình sự và hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn dành cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Pháp luật Hình sự và Tố tụng Hình sự tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Tòa án, Đại học Kiểm sát Hà Nội) phục vụ viết tiểu luận, khóa luận và luận văn về nhóm tội phạm ma túy.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu luật học quan tâm đến lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và kỹ thuật lập pháp về định khung, định lượng khối lượng chất ma túy.
- Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) tham khảo phần tổng kết vướng mắc phân định tội danh Tàng trữ – Mua bán và các án lệ, bản án sơ thẩm thực tế được trích dẫn chi tiết trong khóa luận.
Câu hỏi thường gặp
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 không?
Không. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Hành vi phạm tội tại khoản 1 Điều 251 có khung phạt tù từ 02 đến 07 năm (thuộc loại tội phạm nghiêm trọng), do đó người trong độ tuổi này không phải chịu TNHS theo khoản 1 mà chỉ chịu TNHS nếu phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 251.
2. Điểm mới của BLHS năm 2015 tại điểm e khoản 2 Điều 251 liên quan đến đối tượng tác động so với BLHS năm 1999 là gì?
BLHS năm 2015 đã sửa đổi kỹ thuật lập pháp khi thay thế cụm từ "trẻ em" bằng cụm từ "người dưới 16 tuổi" tại tình tiết định khung: "Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi", giúp xác định trực tiếp, chuẩn xác độ tuổi luật định mà không cần dẫn chiếu văn bản giải thích.
3. Khối lượng Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine hoặc MDMA bao nhiêu thì người phạm tội phải đối diện với khung hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình?
Theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS năm 2015, người mua bán trái phép các chất ma túy nêu trên có khối lượng từ 100 gam trở lên sẽ bị áp dụng khung hình phạt phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
4. Khi phát hiện một người tàng trữ nhiều loại chất ma túy khác nhau cùng lúc mà mỗi chất chưa đủ định lượng tối thiểu của khung tăng nặng thì cơ quan tố tụng xác định khung hình phạt như thế nào?
Theo Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng hoặc thể tích của từng chất ma túy so với mức tối thiểu của khung hình phạt tương ứng, sau đó cộng tổng các tỷ lệ phần trăm lại. Nếu tổng tỷ lệ đạt từ 100% trở lên thì áp dụng khung hình phạt tăng nặng theo quy định.
5. Vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn định tội danh giữa tội Tàng trữ (Điều 249) và tội Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) hiện nay là gì?
Vướng mắc phát sinh trong trường hợp bị can thừa nhận cất giữ ma túy với mục đích "ai mua thì bán" nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được người mua cụ thể hoặc địa điểm, thời gian giao dịch dự kiến. Do chưa có văn bản hướng dẫn thi hành BLHS 2015 thay thế Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT, các cơ quan tố tụng còn lúng túng giữa việc định tội Tàng trữ hay Mua bán trái phép chất ma túy.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Linh Chi đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Bằng việc đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử và tổng hợp dữ liệu xét xử thực tế năm 2022–2023, công trình đã làm rõ cấu thành tội phạm, các tình tiết định khung tăng nặng và những xung đột pháp lý điển hình giữa hành vi tàng trữ và mua bán. Các giải pháp hoàn thiện văn bản dưới luật và nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán được đề xuất trong khóa luận mang tính khả thi cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm ma túy tại Việt Nam.