Chương 1: MOT SÓ VAN DE CHUNG VE TOI TANG TRU’ TRAI PHÉP CHAT MA TUY 1. Khai niệm tội tang trữ tráip hép chất ma túy Dé có thể đưa ra một khái niém day di, chính xác về tội tang trứ TPCMT, clưúng ta cân làm 16 định nghĩa về tôi nay trong các tài liêu khoa học. Theo từ điện tiêng Việt: “Tang trit là cất giữ khối lượng lén”Š Định nghĩa này về hành vi tang trữ đã thé hiện được một cách ngắn gon, đây đủ và súc tích đó là cất giữ hay cũng đông nghia với cat giầu. Theo từ điển Luật học: “Tang trit trái phép là hành vì cất giữ trái phép đối tượng cụ thé trong người, ở nơi 6, ở nơi làm việc hoặc ở một nơi nào khác 7.
Giáo trình Luật hình sự V iệt Nam của trường Dai học Luật TP. Hô Chí Minh định ngiĩa: “Tang trữ TPCMT là hành vi cắt giữ. cắt giắn bat hợp pháp chất ma hy ở bắt cứ nơi nào mà không nhằm mục dich mua bán, van chuyển, sản xuất trái phép chất ma hạt”. Thời gian tang trữ ngắn hay dai không ảnh hưởng dén việc xác định tội này$ Các định nghĩa trên cũng đồng nhất với hau hết các văn bản hướng dan quy đính tội tang trữ TPCMT.
Theo thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dung một số quy định tại chương XVIII “Cac tôi phạm về ma tuy” của BLHS năm 1999 thì quy định hành vi tàng trữ TPCMT bao gồm các hành vi sau: là hanh vi cất giữ, cất giau bat hợp pháp chất ma túy ở bat cử nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới dat, dé trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quân áo, tu trang mặc trên người hoặc theo người.) ma không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất TPCMT. Tội tang trữ TPCMT được quy định tại Điều 194, tại Chương các tôi phạm về ma tủy (Chương XVIII) BLHS năm 1999 và được quy định tại Điêu 249 BLHS năm 5 Hoing Phê (2018), Từ didn nếng Việt, No. Hồng Đức, Bà Néi,tr. 1126 7 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Lit học, Nxb.
Từ didn Bich khoa, Neb. Tư pháp, Viên khoa học phíp Xí, tr. š Trường Đạihoc Luật Tp. Hỏ Chí Minh 2021), Giáo mình Luật hùnh sue Việt Nam (Phẩn các tộiphạm - iyển 2), Neb.
Hằng Đức, Hồ Chi Minh, tr. Theo quy định tại khoản1 Điều 249 BLHS năm 2015 thì “người nào tàng rữ trải phép chat ma túy mà không nhằm mục dich mua bán, vấn chuyên, sản xuất trái phép chất ma ti. “ ng†ấa là néu tàng trừ TPCMT ma nhằm mục đích mua bán, van chuyên, sản xuat thì không phạm tôi và không bị truy cứu TNHS về tội tảng trữ TPCMT. Để đưa ra được khái niệm đây đủ vệ tôi tàng trữ TPCMT, trước hệt cân đảm bảo khái niệm tội tang trừ TPCMT phải thỏa mãn được các dâu hiệu của khái niém tội pham được quy định tại Điều § BLHS: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hỗi được guy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự.
thực hiện một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm đốc lập, chit quyên, thông nhất, toàn vẹn lãnh thé Tổ quốc, xâm phạm chế đồ chính tri, chế độ lanh tế, nên văn hóa. quốc phòng an mình trật te, am toàn xã hội. quyền lot ích hợp pháp của tô chức, xâm phạm qu gền con người, quyền, lợi ích hop pháp của công dén, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chỉ nghiia mà theo quy đình của Bồ luật nay phải bị xử | hình sự”. Trên cơ sở đó, có thé đưa ra khái niệm về tội tàng trữ TPCMT như sau: Tổi tang trữ TPCMT là hành vi nguy hiểm cho xã hồi, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma ty, do người có năng lực TNHS có ÿ cất giữ: cất giấu bat hop pháp ma tiy’ ở bắt cứ nơi nào, trong bat cứ khoảng thời gian nào mà không nhằm mue đích mua bản, vận chuyên, sản xuất trái phép chat ma tp: Với tư cách là một tội phạm, tôi tang trữ TPCMT có day đủ các dâu hiêu đặc trưng của tội pham theo quy dinh trong luật hình sự.
-_ Thứnhất, tôi tàng trữ TPCMT có tinh nguy hiểm cho xã hồi. Hanh wi tang trữ TPCMT sở di bị quy định trong luật hình sự là tôi phạm và phải chiu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội là dâu liệu dau tiên va quan trong nhật, chỉ phối những dau hiệu khác của tôi phạm. Có thể hiểu hành vi có tính nguy hiểm cho xã hôi là hành vi đã gây ra thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hai cho các quan hệ được luật hình sự bao vệ.
Tinh nguy hiểm cho x4 hội được xác định qua các yêu tổ như. Động cơ, mục đích, thủ đoạn phạm tội, thiệt hai về tai sản do hanh vi pham tội gây ra, nhân thân của người phạm tôi. Tính nguy hiém của tôi tàng trữ TPCMT thể hiện ở chỗ nó không chi ảnh hưởng đến cá nhân mà con tác động tiêu cực đến xã hôi qua việc thúc day hoạt động buôn bán, sử đụng ma tủy nguy hạt. Để bi coi là tôi phạm thì ngoài là hành vi có tính nguy hiểm cho x4 hội, con phải xem xét đến mức đô nguy hiém của hành vi đó.
Khoản 2 Điều8 BLHS năm 2015 quy đính: “Những hành vi hạ: có dấu hiệu của tôi phạm nhumg tính chất ngự hiểm cho xã hội không đáng kế thì không phải là tôi phạm và được xử Ij bằng các biện pháp khác ”. V ay nên, chỉ khi hành vi tang trừ TPCMT thöa mãn tính nguy hiém đáng kế mà BLHS quy định thì mới bi coi là tội pham. Nêu không thì chi bị xử lý theo quy định của pháp luật Hành chính, Dân sự hoặc được coi là vô tội Đặc điểm nay có ý ngiữa rất quan trọng về mat lý luận khi hoàn thiên các đầu hiệu đính tôi của tôi tang trữ TPCMT phải dam bảo yêu câu là cầu thành cơ bản tôi tang trữ TPCMT phải có tính nguy hiểm đáng kế cho xã hội. -_ Thứ hai, tội tàng trữ TPCMT phải có lỗi.
° Một hành vi được coi là có lỗi khi thỏa mãn hai điều kiện. Thứ nhất, hành vi trái pháp luật hình sự xâm phạm tới khách thé ma luật hình sự bảo về. Thứ hai, hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chon và quyết định của người thực hiện hành vi, trong một trường hợp cu thé người thực liện hành vi có điều kiên lựa chon và quyết dinh xử sự khác không trái pháp luật nhưng lại không lựa chơn đúng mà quyết định thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự. Đề xác định một người có đang thue hiện hành vi pham tôi hay không ta phải xác định tính có lỗ: của tội pham.
Lối là một yêu tô quan trong dé phân biệt tội pham, là yêu tô bên trong, nguyên nhân chủ quan của tội phạm. Đặc điểm nay doi hỏi khi hoàn thiện các dau hiệu đính tôi của tôi tàng trữ TPCMT phải đảm bảo yêu câu là phải thể hiên cho được lỗ: của tdi tàng trữ TPCMT trong câu thành cơ bản chi là lỗi cô ý trực tiếp Thứ ba, tôi tàng trữ TPCMT được quy định trong luật hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điêu§ BLHS năm 2015 thi hành vi nguy hiểm cho xã hôi chỉ có thé bị coi là tội phạm néu hành wi đó “được gry định trong BLHS _” và Điều2 BLHS năm 2015 quy đính: “Chi người nào phạm một tôi đã được BLHS guy định mới phải chiu TNH”. Dé tuân thủ nguyên tắc pháp ché thì tính trái pháp 9 Trường Đại học Luật Hi Nội (2022), Giáo mink Luật Hink sục Việt Nam (Phin chug), Neb.
Tx phúp, HÀ Nội,tr. 10 luật của tôi tang trữ TPCMT phải quy định trong luật bình sự. Tôi tàng trữ TPCMT là một tội pham được quy định tại Điều 249 BLHS năm 201 5, nên khi một người thực hiện hành wi tàng trữ TPCMT gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành wi đó là trái pháp luật hình sự và người thực hiên hành vi phải chu TNHS. - Thứ tư tôi tàng trit TPCMT do người có năng lực TNHS thực hiện.
Năng lực TNHS là năng lực pháp lí được Nha nước xác đính và thé hién chính sách hình sự của Nhà nước. Do có ý nghiia như vậy nên dâu hiệu về chủ thé được coi 1à một dầu hiệu của tôi pham, mac dù dau hiéu nay thực ra đã được phần ánh qua dau liệu được quy định trong luật hình sự vì trong nội dung được quy định đã có nội dung về chủ thê. Trong việc xác định va truy tô tôi tang trữ TPCMT, việc kiểm tra liệu chủ thể thực hiện hành vi đó có đáp ứng day đủ dâu liệu của người có năng lực TNHS là rat quan trong. Chủ thé của tôi tang trữ TPCMT theo BLHS năm 2015 thi chỉ có thé là cá nhân Cá nhân phạm tội là người có nang lực TNHS, đạt độ tuổi luật đính và đã thực hiện hành vi tang trữ TPCMT.
Trong BLHS năm 2015 không quy định thé nao là người có năng lực TNHS ma chỉ quy định về độ tuôi chiu TNHS và tinh trạng không có năng lực TNHS tại Điêu 21. Trên cơ sở các quy định đó, khoa học luật hình sự đã dua ra định nghĩa về người có năng luc TNHS là “người đã dat độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hop ở trong tình trang không có năng lực TNHS“. Ngoài ra theo Điệu 12, BLHS năm 2015 quy định về tudi chu TNHS như sau: “I. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chiu trách nhiềm hình sự về mọi tôi phạm, trừ những tôi phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Người từ dit 14 tuổi đến dưới 16 mỏi phải chịu trách nhiệm hình sự về tôi phạm rat nghiém trong tôi phạm đặc biệt nghiêm trong quy đình tai một trong các Điều 123, 134 141, 142 143, 144 150 151 168, 169, 170 171, 173, 178, 248, 249, 250 251, 252, 265, 266 286, 287, 289, 290 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Vì vay, đối với đối tượng phạm tội tang trữ TPCMT từ đũ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thi chỉ bị truy cứu khi phạm tôi có ý và mang tinh chật nghiêm trong, đặc biệt nghiêm trong. Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị truy cửu TNHS về mọi hành vi tang trữ TPCMT thỏa man điều kiện truy cứu TNHS theo các khoản của Điều 249 BLHS năm 2015 - Thứ nam, tôi tàng trữ TPCMT có tính phải châu hình phạt.