Đặt vấn đề: Chương này nêu lên lý do và ý nghĩa chọn đề tài nghiên cứu. Ngoài ra còn trình bày mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương II: Tổng quan: Trình bày tình hình tổng quan của địa bàn nghiên cứu như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội có ảnh hưởng đến việc sản xuất RAT. Chương III: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu: Trình bày những khái niệm về RAT, điều kiện có liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ RAT. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày các phương pháp lực chọn để phục vụ nghiên cứu, phương pháp thu nhập số liệu, phương pháp tích số liệu, phương pháp xử lý số liệu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu và phân tích số liệu. Chương này nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ RAT, tìm ra những hạn chế trong sản xuất cũng như tiêu thụ RAT nhằm đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất RAT tại tổ HTX Quyết Tiến phường Phước Trung.
Chương V: Kết luận và kiến nghị. nnn ———————————— Chương này tổng kết những vấn dé chính trong nghiên cứu đưa ra một số kết quả đạt được và một số ý kiến với các cơ quan hữu trách như: Sở NN&PTNT, HTX Quyết Lien, Chi cục Bảo vệ Thực Vật. CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Khái niệm RAT Rau an toàn là phải đảm bảo chất lượng bên trong cũng như hình thức bên ngoài như: tươi, sạch bụi ban, tạp chất, rau không bị héo úa, thối rữa, thu đúng độ chín, có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì vệ sinh hấp dẫn.
Ngoài ra, sản phẩm rau không chứa các dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng nitrat “(NO3) va kim loại nặng trong rau ở dưới mức cho phép. Rau không bị sâu bệnh, không có vi sinh vật gây hại cho người và gia súc. Tam quan trong trong sản xuất và tiệu thu RAT Trong cơ cấu bữa an hằng ngày, rau quả đứng thứ hai sau lương thực, nó là loại thực phẩm bổ sung không thể thiếu được trong đời sống con người, nhu cầu rau quả sẽ dần tăng nhanh khi thu nhập ngày một nâng cao. Gia tăng dân số đã kích thích sản xuất phát triển, cùng với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng như là nguyên nhân gây tốn hại đến môi trường.
Bên cạnh đó, nông nghiệp là ngành ra đời sớm nhất tạo ra thực phẩm phục vụ cho đời sống con người. Vì vậy, phát triển nông nghiệp bền vững có tầm quan trọng rất lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội hướng đến lợi ích lâu dài của con người. Những năm gần đây, đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thoái hóa do nông dan đã sử dụng quá nhiều phân vô cơ và hóa chất BVTV cùng với việc ngộ độc thực phẩm gia tăng. Do đó, vấn dé phát triển rau quả an toàn dang được đặt ra trong nước và trên tất cả thế giới.
Việc phát triển rau an toàn là nền tảng, cơ sở để phát triển bền vững và gia tăng diện tích canh tác tại HTX Quyết Tiến phường Phước Trung. Để phát triển điện tích sản xuất RAT gia tăng sản lượng RAT phục vụ người tiêu dùng trên địa ban tỉnh Chi cục đã triển khai các công tác như: Tập huấn vận động Phước Hiệp và nhận từ Phước Hiệp 0,54ha. Sau khi điều chỉnh Phước Trung có điện tích tự nhiên là: 620,64ha gồm 4 khu phố: Khu phố 2, khu phố 3, khu phố 4, khu phố 5. Ranh giới hành chính: Phía Đông giáp phường Long Toàn.
Phía Nam giáp phường 12. thành phố Vũng Tàu. Phía Tay giáp phường Long Hương và Phước Hiệp. Phía Bắc giáp phường Phước Nguyên và Phước Hưng Vi trí đặc biệt của phường Phước Trung thuộc thi xã Bà Rịa vừa có những lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.2 Cơ sở hạ tang Giao thông: Có quốc lộ đi qua, đường liên xã đã được trãi nhựa, tạo sự yên tâm cho các hộ sản xuất trong quá trình vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch và thuận lợi cho đi lại của bà con.
Điện: Hệ thống lưới điện quốc gia đã được phủ toàn xã, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của bà con.3 Địa hình - Thổ nhưỡng Thổ nhưỡng Theo tài liệu địa chất (bản đồ địa chất Việt Nam, tờ Bà Ria- Gia Ray, do tổng cục Địa chính năm 1999). Đất đai phường Phước Trung hình thành trên hai loại trầm tích: Trầm tích hiện đại và phù sa cổ. Phù sa cổ: khoảng 70% điện tích tự nhiên, nhưng một phan trong chúng đã bị bao phủ bởi trầm tích hiện đại, mẫu chất này có tầng day khoảng 100-200mét. Thành phần trầm tích bao gồm cát bột hoặc cát hạt sét gắn kết yếu.
Vì vậy, chúng được xếp vào nhóm đất xám thường chua và có độ phì thấp tram tích hiện đại: Chủ yếu là trầm tích có nguồn gốc hỗn hợp trên nền đầm lầy chiếm khoảng 30% điện tích tự nhiên. Đặc trưng cơ bản của trầm tích này là có thành phần hạt mịn bao gồm sét - bột và thường có lẫn nhiều mùn thực vật kèm theo một lượng Sunfur đáng kể. Vì vậy, đất trên hoạt tính chứa phèn với độ sâu và mức độ khác. Đây là vùng đất thuận lợi trồng rau.
Địa hình Địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc từ 0-3 độ, bị chia cắt mạnh bởi các song rạch chăng chịt (Khu vực phía nam phường) có nhiều khu vực thấp cục bộ là lòng sâu cổ chưa được phù sa bồi lắng lap đầy, cao chỉ 0,3-0,5m. Khí hậu Phường Phước Trung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa lớn và phân hóa thành hai mùa trái ngược nhau: mùa mưa và mùa khô, qui luật phân bố này tương đối ổn định qua các năm, ít thay đỗi trong không gian và giúp bà con nông dân trong việc trồng trọt. Nhiệt độ Nhiệt độ cao và ổn định, bình quân là 26,4°C, nhiệt độ tối cao trung bình 30°C vào tháng 3, thang 4, nhiệt độ tối thấp trung bình 24,4°C vào tháng giêng phân bố tương đối đều theo mùa vụ cho phép sản xuất cây trồng quanh năm, trong đó rất thuận lợi cho việc trồng rau. Chế độ nắng và bức xạ Tổng giờ nắng trung bình 2.709 giờ, số giờ nang thấp vào mùa mưa và cao nhất vào mùa nang.
Bức xa khá ổn định, trung bình 154.8Kcl/cm? cao nhất vào tháng 3 (16,34Kcl/cm?) và thấp nhất vào tháng 11 (12,1 Kel/em”) với nhiệt độ nắng, nhiệt và bức xạ mặt trời đã tạo điều kiện cho cây trồng tại Bà Rịa có thể phat triển quanh năm. Thúy triều Phường Phước Trung do vị trí gần biển Đông lại ở cửa sông nên sông rạch ở phướng Phước Trung chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều với biên độ lớn. Như vậy, so sánh với cao trình mặt đất bình quân: 0,5-1,5m, đều có thể tận dụng thủy triều vào các mục dich sản xuất thủy sản, nông- lâm nghiệp và diêm nghiệp. Tài nguyên nước Trên địa bàn phường có 2 sông chạy qua là: sông Dinh và sông Vũng Dan, có khả năng cưng cấp nước ngọt sinh hoạt và tưới tiêu với số lượng lớn, địa bàn phường được bao bọc bởi các sông và giao thông: quốc lộ 51, quốc lộ 55.
Sông Dinh là khu vực chia làm 2 khu vực: Khu vực thượng lưu: là vùng nước ngot, đây là vùng cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp và nhà máy nước sông Dinh. W/ Khu vực hạ lưu: là vùng nước lợ và mặn, là khu vực nuôi trồng thủy hải sản và các hoạt động giao thông thủy hình thành nên những bến cảng mà bến súc là một trong những cảng thuộc phường Phước Trung. Tóm lại, nguồn nước tại đây cho phép phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt phường là không nhiều so với tổng nhu cầu dùng nước song trên thực tế sử dung nước lãng phi, hiệu qua kinh tế không cao. DIEU KIEN KINH TE XÃ HOI 2.
Dân số - lao động Theo số liệu thống kê năm 2006, phường hiện có 4 khu phố, dân số thường là 6,339 người với 1,297 hộ bình quân 4,96 người/hộ. Ty lệ tăng dân số tự nhiên 1,5%. Qua số liệu về dân số và lao động cho thấy tổng số lao động là 4,162 người chiếm tỷ lệ 63,74% đây là một lượng lao động tại chỗ khá đồi đào, phục vụ cho việc phát triển kinh tế của phường trong hiện tại và tương lai. Bảng 1: Tình hình dân số- Lao động tại phường Phước Trung Khoản mục DVT Số lượng Tỷ lệ % 1.
Tông sô hộ Hộ 1,297 = 2. Tổng số khẩu Người 6,339 B 3. Tổng số lao động, trong đó: Người 4,162 100,00 +Nam _ Người 1,032 24,8 +Nữ Người 3,103 T5, (Nguôn: UBND phường Phước Trung) 2. Tập quán sản xuất Đa phần là người dân tại địa phương theo nghề trồng rau theo cách cổ truyền.
Dân tập trung làm theo từng liên hộ liên canh nhau. Họ chia sẽ kinh nghiệm trồng trọt và có sự đoàn kết nhiệt tình giúp đỡ nhau trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt, nhờ vậy nghề trồng rau trong tổ đang ngày càng phát triển. Tình hình phát triển của tổ hợp tác sản xuất RAT tại Quyết Tiến Diện tích trồng từ năm 1998-2001 trên toàn bộ là đất trồng lúa nước trước đây. Do hiệu quả kinh tế thấp, đất bị thoái hóa, bỏ hoang.
Sau nhiều năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng người dân địa phương đã mạnh đạn chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng rau. Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ khuyến nông, áp dụng biện pháp thâm canh tăng năng suất cây rau đã khang định mình nâng cao thu nhập, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, góp phần thúc đây kinh tế địa phương ngày càng phát triển. Thực hiện chi đạo của Sở NN &PTNT, chủ trương của UBND Tinh Bà Ria- Vũng Tàu về việc sản xuất và tiêu thụ RAT, phòng Địa chính Nông nghiệp phường lập kế hoạch tiến hành xây dựng mô hình sản xuất RAT, đầu tư nhà lưới, hệ thống tưới, khâu làm đất, chọn giống, sử dung phân bón, kỹ thuật chăm sóc, không sử dụng thuốc BVTV. Sau khi đưa mô hình sản xuất và gửi sản phẩm đi kiểm định sản phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổ sản xuất ngày càng ổn định và phát triển vì lượng cần gia tăng và nguồn thu nhập của người sản xuất cũng tăng hơn trước.