Chương 1: Cơ sở khoa học về hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt N am (BIDV) – phòng giao dịch An Đông Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt N am (BIDV) – phòng giao dịch An Đông Phần III: Kết luận và kiến nghị 7 PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘ G CHO VAY TẠI GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1. Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại N gân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ với mục đích chính là tạo nguồn lợi nhuận. N gân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng để cung cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo quy định tại khoản 2 điều 5 nghị định 59/2009/ N Đ-CP về tổ chức thương mại quyết định như: N gân hàng thương mại nhà nước là ngân hàng thương mại trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. N gân hàng nhà nước thương mại còn là một bộ phận đặc biệt lớn nhất trong các hệ thống trung gian tài chính. Các hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là yếu tố chiếm vị trí chủ chốt cho các hoạt động của ngân hàng.
N ó đóng vai trò quan trọng đối với các lĩnh vực trong nền kinh tế vào việc cung cấp các điều kiện thông qua việc gửi tiền nhàn rỗi của dân cư vào các tổ chức kinh tế để đem lại doanh thu lợi nhuận. Để gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được một nguồn vốn có chất lượng ngày càng cao thì đòi hỏi các ngân hàng cần phải có những biện pháp và nhiều hình thức huy động vốn khác nhau như : tiền gửi thanh toán , tiền gửi tiết kiệm của dân cư , tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng,… Mỗi loại tiền gửi đều có mục đích và đặc điểm khác nhau phù hợp với nhiều đối tượng. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại với những nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng với nhiều mục đích khác nhau nhằm mang lại nguồn lợi nhuận tối đa cho ngân hàng. - Hoạt động đầu tư Sau hoạt động cho vay thì hoạt động đầu tư cũng mang lại nguồn thu nhập cao cho ngân hàng, thông thường các nguồn đầu tư vào những lịch vực như: Mua các 8 chứng khoán, trái phiếu chính phủ, góp vốn liên doanh nhằm mục đích mang lại lợi nhuận và phân tán rủi ro.
- Dịch vụ ngân quỹ Chỉ hoạt động quản lý các khoản thu và chi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Dịch vụ ngân quỹ được cung cấp bởi các ngân hàng thông qua việc thu, chi tiền cho chủ tài khoản, cũng như vận chuyển, kiểm đếm hay phân loại và xử lý tiền trong lưu thông. Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ ngân quỹ không cần đến thời gian mà có thể an tâm với khoản tiền phải thu, chi trả của mình. Đảm bảo cho khả năng này là những tài sản có tính thanh lỏng cao.
- Hoạt động tín dụng Mối quan hệ cấp tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng, cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ: Cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác nhằm mục đích đem lại lợi nhuận cho ngân hàng từ hoạt động cấp tín dụng này. - Cho vay Là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động cho vay mang lại tỷ lệ sinh lời lợi nhuận cao nhất nhưng đồng thời cũng tiềm Nn nhiều rủi ro và hạn chế trong hoạt động cho vay của ngân hàng. - Chiết khấu thương phiếu Là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, thực hiện hoạt động bằng cách ngân hàng mua lại thương phiếu chưa đáo hạn của khách hàng.
Đặc điểm của tín dụng này là phải trả lãi ngay khi vừa nhận tiền vốn. Do đó, nghiệp vụ tín dụng này phải được đảm bảo là các tài sản có tính thanh khoản cao, dịch vụ này vừa tạo ra tài sản sinh lời cho ngân hàng vừa tạo ra một nguồn lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của tính thanh khoản. 9 - Bảo lãnh ngân hàng Là hình thức cấp tín dụng, theo đó các tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ chi trả như đã ký kết, cam kết khách hàng phải thu nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng như hợp đồng đã thỏa thuận. N gân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng vào các dịch vụ đời sống và xã hội như: Khách hàng mua chịu hàng hóa trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác,… - Cho thuê Là hoạt động cung cấp tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn, trong đó ngân hàng sẽ bỏ vốn đi mua các tài sản khác để cho khách hàng thuê lại thỏa mãn nhu cầu giữa hai bên như đã thỏa thuận.
Khách hàng phải trả tiền cho ngân hàng từ việc thuê các tài sản của ngân hàng, thường hợp đồng cho thuê khách hàng phải quỵ trước cho ngân hàng đến một nửa giá trị của tài sản và nếu như khách hàng thấy tài sản đó hợp thì mua luôn tài sản nếu khách hàng muốn. Hoạt động dịch vụ khác N goài các hoạt động chủ chốt trên, ngân hàng còn cung cấp một số lĩnh vực như: Góp vốn đầu tư, mua các cổ phần của doanh nghiệp, tham gia thị trường tiền tệ, hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Là ngân hàng hợp tác với các công ty bảo hiểm để phát triển và phân phối các sản phNm của ngân hàng cũng như sản phNm của bảo hiểm thông qua việc cung cấp cùng các sản phNm cùng một cơ sở khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng sử dụng các kênh phân phối do ngân hàng thiết lập để quảng bá các sản phNm của bảo hiểm nhờ đó cũng tăng doanh thu cho ngân hàng và tạo mối quan hệ hợp tác bền vững giữa hai bên.
- Hoạt động dịch vụ chứng khoán: Là các ngân hàng thương mại bỏ nguồn vốn của mình mua các chứng khoán khác nhau để giữ đến ngày đáo hạn, bán ra thị trường thứ cấp hoặc thực hiện các hoạt động liên quan đến chứng khoán nhằm mục đích tăng cường khả năng thanh khoản đồng thời đem lại thu nhập cho ngân hàng và đa dạng các loại hình đầu tư để giảm thiểu tối đa các rủi ro. 10 - Các hoạt động khác như bảo quản động vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê két, dịch vụ cầm cố,… Từ những dịch vụ đó giúp ngân hàng có được một khoản lợi nhuận từ việc thu phí dịch vụ chủ yếu chủ chốt thì các dịch vụ này cũng đang phát triển mạnh và có tỷ trọng lớn nên đang được đưa vào ngân hàng ngày càng chú trọng. Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm N gân hàng thương mại là tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động về các hoạt động trong ngân hàng liên quan đến các lĩnh vực cung cấp tiền tệ, dịch vụ tài chính giữa khách hàng với ngân hàng và ngược lại.
Các hoạt động trong ngân hàng như: Huy động nguồn vốn cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và thanh toán qua tài khoản. Trong đó cho vay tiêu dùng là khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho các tiêu dùng, hộ gia đình nhằm mục đích tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu như: Mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại, trang thiết bị y tế và giáo dục,… N hằm nâng cao hiệu quả chất lượng cuộc sống của cá nhân và hộ gia đình. Cho vay tiêu dùng cho phép cá nhân, hộ gia đình được cấp vốn sử dụng trước vốn với mục đích mua hàng hóa của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện cho khách hàng có thể thỏa mãn được những mong muốn nhu cầu của mình trước khi mình có khả năng chi trả sở hữu những sản phNm đó. Mặt khác thì cho vay tiêu dùng còn giúp thúc đNy kích thích gián tiếp sản xuất.
N gân hàng thương mại được hình thành trên cơ sở của sự phát triển nền kinh tế thị trường và đời sống xã hội của người lao động. Một nền kinh tế ngày càng phát triển thì làm cho đời sống người lao động được nâng cao kéo theo các hoạt động liên quan như tiền gửi, chi trả hộ,… làm cho ngân hàng thương mại cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện hơn và trở thành một ngân hàng vững mạnh để có thể cạnh tranh với nền kinh tế đang ngày càng phát triển mạnh mẽ này. N hư vậy chúng ta có thể biết cho vay tiêu dùng những năm gần đây đã trở thành một sản phNm phổ biến đặc biệt là khi nền kinh tế và đời sống của người dân ngày càng phát triển rỏ rệt thì loại hình cho vay tiêu dùng được người dân ngày càng ưa chuộng và chú trọng đến. Qua đó dịch vụ cho vay tiêu dùng cũng đã nằm trong những chiến lược, kế hoạch đa dạng hóa tín dụng, mở rộng sản phNm phục vụ 11 cũng như phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Điều đó giúp cho ngân hàng đem lại lợi nhuận cao và quảng bá thương hiệu của mình trên thị trường. Vai trò của cho vay tiêu dùng 1. Đối với nền kinh tế Chúng ta có thể cho rằng hầu hết chủ thể trong nền kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng lợi ích do hoạt động ngân hàng mang lại.