Chương I, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được sửa đổi bổ sung ngày 20 tháng 11 năm 2017 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 01 năm 2018) Như vậy, có thể phát biểu về khái niệm NHTM là: “NHTM là một DN kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng SVTH: Nguyễn Thị Tường Vân 11 of Economics, Hue University GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà cho xã hội. (Giáo trình Tín dụng ngân hàng, Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, PGS. Phan Thị Cúc) - Vai trò của NHTM: Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là cầu nối gữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Chức năng trung gian thanh toán: đóng vai trò thủ quỹ cho các DN và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của KH. Chức năng tạo tiền: là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Trong quá trình kinh doanh tiền tệ - tín dụng ngân hàng đã gia tăng khối tiền tệ cung ứng thêm cho nền kinh tế.Tín dụng ngân hàng Theo Giáo trình QTTD Ngân hàng thương mại của Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc thì Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.Các vấn đề liên quan đến kiểm soát quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp trong các Ngân hàng thương mại 1.Tổng quan về cho vay khách hàng doanh nghiệp Cho vay KH DN của NHTM là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với DN, theo đó ngân hàng giao cho DN một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.Đặc trưng của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp Đối tượng KH đa dạng vì các DN hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Mục đích sử dụng vốn của DN là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất nên các khoản vay có giá trị lớn.
Thủ tục và quy trình cho vay phức tạp vì tính pháp lý của DN phức tạp hơn SVTH: Nguyễn Thị Tường Vân 12 of Economics, Hue University GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà nhiều so với cá nhân. Nguồn trả nợ từ tiền bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác. Rủi ro gây ra tổn thất lớn cho NHTM.Các hình thức cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo thời gian: tín dụng ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống), tín dụng trung hạn (từ trên 1 năm đến 5 năm), tín dụng dài hạn (trên 5 năm). Theo hình thức tài trợ tín dụng: chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
Theo tài sản đảm bảo: tín dụng có tài sản đảm bảo và tín dụng không cần tài sản đảm bảo. Theo cách thức cho vay: cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp.Một số khái niệm liên quan đến quy trình cho vay Theo quyết định 1627/2001/QĐ – NHNN, Quyết định của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với KH. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho KH sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay KH DN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho đối tượng KH DN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi KH bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong HĐTD giữa TCTD và KH. Kỳ hạn trả nợ là khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa TCTD và KH mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó KH phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho TCTD. Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc TCTC và KH thỏa thuận về việc thay đổi các kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận trước đó trong HĐTD. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà TCTD và KH đã thỏa thuận trong HĐTD.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vân 13 of Economics, Hue University GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà Khả năng tài chính của KH vay là khả năng về vốn, tài sản của KH vay để đảm bảo hoạt động thường xuyên và thực hiện các nghĩa vụ thanh toán. Theo giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, NXB công an nhân dân, 2007 Lãi suất: khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu. Tỷ lệ phần trăm của phần tăng này so với phần vốn ban đầu được gọi là lãi suất. HĐTD: chính là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định, theo đó TCTD thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn gốc và lãi.Nguyên tắc cho vay Để đảm bảo an toàn vốn, trong quá trình cho vay KH DN, NHTM phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc hoàn trả: Khoản tín dụng phải được thanh toán đầy đủ nguyên gốc sau khi sử dụng để Ngân hàng bảo toàn được vốn ở mức tối thiểu nhất để có thể duy trì được hoạt động.
- Nguyên tắc thời hạn: Khoản tín dụng phải được hoàn trả đúng vào thời điểm đã được hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa KH và Ngân hàng. - Nguyên tắc trả lãi: Ngoài việc thanh toán đẩy đủ, đúng hạn khoản gốc, KH phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tính bằng tỉ lệ % trên số tiền vay, được coi là giá mua quyền sử dụng vốn. - Nguyên tắc tài sản đảm bảo: Để bảo vệ nguồn vốn của Ngân hàng khi KH vi phạm các điều kiện vay vốn hoặc khi chủ nhân của tài sản thế chấp không còn khả năng thanh toán cho Ngân hàng. - Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích: Tất cả các khoản tín dụng phải được sử dụng đúng mục đích vay thể hiện trong hồ sơ vay vốn.Quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của Ngân hàng trong việc cho vay.
Quy trình này bao gồm nhiều khâu theo một trật tự nhất định. Có thể khái quát quy trình cho vay theo Sơ đồ 1.1 SVTH: Nguyễn Thị Tường Vân 14 of Economics, Hue University GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà - Hướng dẫn KH và tiếp nhận hồ sơ: Tùy theo quan hệ giữa KH và Ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và quy mô tín dụng, CBTD hướng dẫn KH lập hồ sơ với những thông tin, yêu cầu khác nhau. Nhìn chung một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ KH những thông tin sau: Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của KH. Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của KH.
Thông tin về đảm bảo tín dụng. Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, Ngân hàng thường yêu cầu KH phải lập và nộp cho Ngân hàng các loại giấy tờ sau: Giấy đề nghị cấp tín dụng. Phương án sử dụng vốn. Hồ sơ pháp lý: Giấy phép thành lập, giấy phép đăng ký sản xuất kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.
Hồ sơ tài chính: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ của thời kỳ gần nhất. Hồ sơ về phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ. Hồ sơ về tài sản đảm bảo: các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nợ vay. Các giấy tờ khác theo yêu cầu của Ngân hàng.
- Thẩm định hồ sơ vay và lập tờ trình: Thẩm định là việc thu thập và xử lý những thông tin liên quan đến KH, phương án vay vốn, tài sản đảm bảo nợ vay. để làm cơ sở ra quyết định cho vay. Thông tin sử dụng trong công tác thẩm định: + Thông tin do KH cung cấp. + Thông tin đã được lưu trữ tại Ngân hàng.
+ Thông tin từ các đối tượng khác cung cấp. - Thẩm định KH: + Kiểm tra tư cách pháp lý. + Đánh giá khả năng tài chính. SVTH: Nguyễn Thị Tường Vân 15 of Economics, Hue University GVHD: Th.S Phan Thị Hải Hà Thẩm định phương án vay vốn: + Đánh giá tính khả thi.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế. + Đánh giá khả năng tài trợ. Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay: + Kiểm tra tính hợp lệ của đảm bảo nợ vay. + Xác định giá trị còn lại của tài sản đảm bảo.
Lập tờ trình: Tờ trình thẩm định là báo cáo kết quả công tác thẩm định và ý kiến đề xuất của nhân viên thẩm định. - Quyết định: Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay của KH. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Đây là khâu quan trọng và cũng là khâu dễ phạm phải sai lầm nhất.
Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này: Quyết định chấp thuận cho vay đối với một KH không tốt. Từ chối cho vay đối với một KH tốt. Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho Ngân hàng. Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính.
Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ hội cho vay.