Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Agribank - Chi nhánh tỉnh Hà Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Agribank - Chi nhánh tỉnh Hà Nam. 7 CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG ẠI 1.
Lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm Trên thế giới, KSNB đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn của các doanh nghiệp từ đầu những năm 20 của thế kỷ 20, tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau có nhiều các tiếp cận khác nhau về KSNB. Do đó, khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã được đúc kết thành các khái niệm khác nhau từ đơn giản đến phức tạp.
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), KSNB là một hệ thống các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo độ tin cậy các thông tin, việc thực hiện các chế độ pháp luật và hiệu quả hoạt động. COSO là một chu n mực của thế giới trong lĩnh vực Kiểm soát nội bộ, được ban hành lần đầu vào năm 1992 tại Hoa Kỳ; COSO đóng vai trò như một bước khởi đầu làm nền tảng cho các doanh nghiệp khi xây dựng hệ thống Kiểm soát nội bộ. Theo Báo cáo COSO (1992 và 2013), KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Sự hiện hữu và hiệu quả hoạt động; sự tin cậy của báo cáo tài chính; sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Đây cũng là khái niệm được chấp nhận rộng rãi trong nước và trên thế giới, trong nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng xây dựng kiểm soát nội bộ của các tổ chức hoạt động.
Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ban hành này 20/11/2015, KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Đơn vị kế 8 toán phải thiết lập kiểm soát nội bộ trong đơn vị để đảm bảo các yêu cầu: Tài sản của đơn vị được đảm bảo an toàn, tránh sử dụng sai mục đích, không hiệu quả; các nghiệp vụ được phê duyệt đúng th m quyền và được ghi chép đầy đủ làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý. Theo Chu n mực kiểm toán Việt Nam số 315 (VSA 315), KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Qua các khái niệm trên có thể thấy bản chất của KSNB là hoạt động tự kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp, phục vụ cho mục đích quản trị nội bộ của doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp sẽ ban hành các văn bản quy định nội bộ, quy chế, nội quy để tự tiến hành kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời các tồn tại, vi phạm trong chấp hành cơ chế nghiệp vụ, ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, áp dụng các biện pháp chấn chỉnh, khắc phục xử lý để hạn chế ảnh hưởng đến an toàn tài sản, lợi nhuận của doanh nghiệp. Đặc điểm KSNB luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đây là hoạt động diễn ra thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình phát triển ở bất kỳ doanh nghiệp nào, nó hiện hữu ở mọi nơi từ các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ đến tập thể, cá nhân có tham gia vào hoạt động kinh doanh. KSNB là khâu quan trọng trong quá trình quản trị, giúp cho nhà quản lý đạt được các mục tiêu cụ thể là bảo vệ tài sản, bảo đảm độ tin cậy của thông tin, bảo đảm sự tuân thủ quy định pháp lý và bảo đảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
KSNB theo COSO được khái quát qua các vấn đề gồm có: Quá trình, con người, mục tiêu và đảm bảo sự hợp lý. Cụ thể: 9 Thứ nhất, KSNB là một quá trình bởi KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp. KSNB hiện hữu nhất khi được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải coi như một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc như một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
Thứ hai, KSNB được thiết kế và vận hàng bởi con người vì KSNB không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập,… mà phải bao gồm cả yếu tố con người như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên của tổ chức. Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng. Cụ thể: Hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đều tham gia vào quy trình này.
Thứ ba, KSNB giúp doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu. Để có thể hoạt động hiệu quả nhất, mỗi bộ phận phải đặt ra mục tiêu, lập kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu chung cho toàn doanh nghiệp và các mục tiêu cho từng bộ phận cụ thể. Không thể yêu cầu tuyệt đối thực hiện được các mục tiêu đối với KSNB mà chỉ có thể yêu cầu cung cấp một sự đảm bảo hợp lí trong việc thực hiện mục tiêu. Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con người khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu.
Việc KSNB có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phậm những không thể đ m bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa. Bên cạnh đó, quyết định của KSNB còn tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: sự đánh đổi lợi ích-chi phí, chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát. Vì vậy, KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. Mục tiêu Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Mục tiêu hoạt động: Phòng ngừa, ngăn chặn sai sót, vi phạm, giảm thiểu rủi ro, phát hiện sai sót, vi phạm, dấu hiệu rủi ro, đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hiệu quả kinh doanh; bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế.
- Mục tiêu thông tin: Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời để người quản lý có thể dựa vào thông tin đưa ra quyết định. Ví dụ: Thu thập thông tin về nợ xấu có thể giúp chúng ta phân tích tìm hiểu xu hướng của nợ xấu theo: ngành nghề cho vay, loại hình sở hữu doanh nghiệp cho vay, thời hạn cho vay… nhằm đưa ra danh mục cho vay an toàn và hiêu quả. - Mục tiêu tuân thủ: Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các quy trình, quy định nội bộ của doanh nghiệp và quy định chung của các cấp có th m quyền. Đạt được các mục tiêu là vấn đề hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên, nhà quản lý tổ chức và điều hành trên cơ sở cân nhắc giữa chi phí và lợi ích sẽ không thể chấp nhận bất cứ phương pháp kiểm soát nào nếu chi phí của nó quá cao so với lợi ích mang lại. Đây chính là sự đảm bảo tính hợp lý trong thiết kế một hệ thống KSNB. Vai trò Trong doanh nghiệp luôn luôn có sự thống nhất và xung đột giữa quyền lợi chung và quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động. KSNB được thiết kế hiện hữu, hiệu quả sẽ dung hòa được quyền lợi của người lao động và quyền lợi chung của doanh nghiệp, quản lý được các rủi ro, phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác và khoa học.
Do đó, việc xây dựng KSNB hữu hiệu trong doanh nghiệp sẽ có vai trò cốt lõi trong quản lý điều hành công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Kiểm soát nội bộ theo COSO có các vai trò quan trọng sau: 11 - Giảm bớt nguy cơ, rủi ro tiềm n trong sản xuất kinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản ph m, ….