Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 1. Các khái niệm cơ bản về phương pháp dạy học tích cực 1. Dạy học Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy học, tùy theo góc độ nghiên cứu mà mỗi tác giả đều đưa ra những quan niệm khác nhau về dạy học cụ thể: - Theo tác giả Trần Thị Hương (2012) trong tài liệu “Dạy học tích cực” quan niệm: Dạy học là sự tác động vào các giác quan và trí nhớ của người học: cung cấp sự kiện, hình ảnh, tri thức để người học có cảm giác, hình thành các hình ảnh, tạo ra các kích thích để người học xác nhận các mối liên tưởng, giúp người học ôn luyện, củng cố, khôi phục các mối liên tưởng. Bên cạnh đó, tác giả còn nhận định dạy học là một quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức và phương pháp hoạt động nhận thức.
- Theo Trương Thị Xuân Huệ (2014) trong cuốn sách “Lý luận dạy học hiện đại – Dạy học tích hợp trong trường phổ thông và trường mầm non” khẳng định: Dạy học là sự tác động có định hướng và có hệ thống lên người được dạy học nhằm truyền lại cho người học kiến thức, kỹ năng kỹ xảo nhất định. - Theo Vưgotxky, dạy học không phải là sự tác động một chiều từ người dạy đến người học mà là quá trình hợp tác thực sự của người dạy và người học, trong đó người dạy tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo, kích thích, khuyến khích hoạt động của người học. - Nguyễn Thị Cẩm Bích (2012) trong tài liệu “ Phương Pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non” cho rằng: Dạy học không có nghĩa là để người học tự khám phá tri thức cho chính họ mà là tổ chức để mọi thành viên có thể tham gia tích cực vào hoạt động, người học khám phá với sự giúp đỡ trong quá trình hoạt động hợp tác. Từ những quan niệm của các tác giả trên cho thấy khái niệm dạy học thể hiện ở vai trò chủ động của giảng viên là tổ chức, vai trò chủ động của SV là hoạt động, đây là hai chủ thể bình đẳng trong quá trình dạy học.
Đặc biệt là SV không chỉ hoạt động để tiếp thu và ứng dụng cái GV truyền thụ cho, mà còn hoạt động suốt đời để tiếp nhận giáo dục, tức duy trì và phát triển năng lực học tập. Nền tảng của mọi lý thuyết dạy học hiện đại là triết lý giáo dục hướng vào người học. Từ đó, họat động dạy học được hiểu là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất biện chứng giữa hoạt động chủ đạo của người dạy và hoạt động chủ động của người học nhằm thực hiện mục tiêu dạy học. Bản chất của hoạt động dạy học là hoạt động nhận thức độc đáo của người học dưới sự tổ chức, hướng dẫn sư phạm của GV.
Hoạt động dạy của GV, hoạt động học của người học, cả hai hoạt động này đều diễn ra trong quá trình dạy học và có sự đan xen với nhau, nhằm đạt được mục 13 đích giáo dục, hoạt động học của người học chỉ có hiệu quả khi người học tích cực, chủ động, tự nguyện, tự giác tham gia vào quá trình học. Muốn được như vậy, trước hết người học phải hứng thú, có mong muốn được học, được tham gia vào hoạt động tìm hiểu, khám phá, lắng nghe hay thực hành… giảng viên là người hướng dẫn người học cách học sao cho có hiệu quả. Ở đây, giảng viên không còn là người thuyết giảng, giảng giải, giải thích nội dung kiến thức mà là người tổ chức các hoạt động khác nhau cho người học quan sát, chơi, thực hành, làm thí nghiệm; trao đổi, chia sẻ với cô và bạn; biểu đạt những hiểu biết của mình bằng các cách khác nhau… Tóm lại, dạy học là hoạt động tương tác, biện chứng giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động tích cực chủ động của học sinh. Trong đó hoạt động dạy của giảng viên đóng vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh đóng vai trò chủ động.
Hai hoạt động này đều nhằm thực hiện mục tiêu dạy học. Dạy học tích cực Theo tác giả Thái Duy Tuyên: Tính tích cực là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng. Ngoài ra, nó cũng là một khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó. Sự nỗ lực diễn ra trên nhiều mặt: - Sinh lí: đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp.
- Tâm lí: tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng… - Xã hội: đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài… Vì vậy, tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: - Nhu cầu - tích cực nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó; - Động cơ - tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định; - Hứng thú - do bị lôi cuốn bởi những sự say mê vì sự biến đổi, cải tạo một hiện tượng nào đấy Tóm lại, tính tích cực nói chung là sản phẩm rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại. Dạy học tích cực chính là dạy học phát huy được tính tích cực học tập của học sinh. Nói cách khác là dạy học lấy người học làm trung tâm. Trong dạy học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức định hướng của GV, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp 14 và rút ra kết luận.
Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo. Phương pháp dạy học tích cực Phương pháp là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt mục đích đã định. Phương pháp có cấu trúc phức tạp bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống hành động, những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện trí tuệ), chủ thể, quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả vận dụng phương pháp (mục đích đạt được). Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương tác, phối hợp thống nhất của giảng viên và người học trong hoạt động dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giảng viên nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
PPDHTC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, cụ thể: Trong PPDHTC, R. Singh (1988) nói “GV không chỉ là người truyền thụ những tri thức riêng rẽ. GV giúp cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh vực học tập ngày càng rộng lớn hơn. GV đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người làm mẫu cho học sinh.
GV không phải là một chuyên gia ngành hẹp mà là một cán bộ trí thức, là người học hỏi suốt đời. Trong việc thực hiện quá trình dạy học, người dạy và người học là những người bạn cùng nhau tìm tòi khám phá”.Sharma (1998) viết: “Trong PPDHTC, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng lợi ích của học sinh, mục đích là phát triển ở học sinh kỹ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề.Vai trò của GV là tạo ra tình huống để phát triển vấn đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận. Theo Trần Thị Hương (2012), PPDHTC là cách thức tiến hành các phương pháp, phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp dạy học truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học’. Nguyễn Thị Cẩm Bích (2013) viết “Phương pháp dạy học tích cực chính là việc sử dụng và phối hợp một cách khéo léo, hợp lý các phương pháp dạy học khác nhau nhằm phát huy tối đa các hoạt động tích cực nhận thức và hợp tác của người học”.
Từ những nghiên cứu trên đây có thể thấy rằng tùy theo những góc độ nghiên cứu, mỗi tác giả có những quan niệm khác nhau về PPDHTC nhưng các tác giả đều có những quan điểm chung PPDHTC như : 15 - Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức. - Dựa trên nhu cầu, kinh nghiệm, khả năng và hứng thú của người học. - GV giữ vai trò chủ đạo người học giữ vai trò chủ động. - Hình thành cho người học năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề.
So sánh PPDH truyền thống và PPDH tích cực Tiêu chí PPDH truyền thống PPDH tích cực Học là quá trình tiếp thu và Học là qúa trình kiến tạo, học sinh tìm Quan lĩnh hội, qua đó hình thành tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, niệm kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, khai thác và xử lý thông tin, .tự hình tình cảm thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Truyền thụ tri thức, truyền Bản Tổ chức hoạt động nhận thức cho học thụ và chứng minh chân lý chất sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lý của GV Chú trọng hình thành năng lực (sáng Chú trọng việc cung cấp tri tạo, hợp tác, độc lập….) dạy phương thức, kỹ năng, kỹ xảo, học để pháp và kỹ thuật lao động khoa học, Mục đối phó với thi cử. Sau khi thi dạy cách học. Học để đáp ứng những tiêu xong, những điều đã học yêu cầu của cuộc sống hiện tại và thường bị bỏ quên học ít tương lai.
Những điều đã học cần thiết, dùng đến bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các nguồn tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế, Nội - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu Từ sách giáo khoa và GV dung cầu của học sinh - Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương - Những vấn đề học sinh quan tâm Các phương pháp diễn giảng, Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải Phương truyền thụ kiến thức môt quyết vấn đề, dạy học tương tác, tình pháp chiều huống. 16 Cơ động, linh hoạt.