CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Nền kinh tế thế giới ngày một chuyển mình với nhiều hình thái khác nhau, đòi hỏi cần có một hệ thống kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt trong lĩnh vực báo cáo tài chính. Hiện nay, các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ đã được thực hiện khá nhiều. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu cụ thể vẫn chưa được làm sáng tỏ v à quan tâm đúng mức. Đồng thời, các khuyến nghị liên quan đến các bài nghiên cứu này mang tính chất tổng quát.
Ở Việt Nam, KTNB cũng được đánh giá và nghiên cứu qua một vài bài nghiên cứu của các tác giả là học viên cao học, nghiên cứu sinh tại các trường đại học lớn. Phần lớn tập trung nghiên cứu về tính chất của KTNB, các biện pháp hoàn thiện hệ thống KTNB tại các DN. Số lượng các nghiên cứu áp dụng việc kết hợp mô hình định tính và định lượng vẫn còn rất ít. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Ngày nay, vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế hiện đại ngày một quan trọng sau khi tách bạch lợi ích của nhà quản lý và chủ sở hữu trong các tập đoàn lớn được cho là nguyên nhân dẫn đến xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu (Adams, 1994).
Sự tồn tại của hệ thống quản trị DN được tổ chức tốt nhất để theo dõi và thúc đẩy hệ thống quản trị tốt trong mô hình tổ chức của các DN (Belay, 2007). KTNB (“KTNB”) là một phần quan trọng trong cấu trúc quản trị DN, trong đó bao gồm bởi các hoạt động giám sát được thực hiện bởi Ban Giám đốc và ủy ban kiểm toán để nâng cao tính trung thực của báo cáo tài chính. Vai trò của KTNB tăng lên do hậu quả của sự thất bại của các công ty vào khoảng đầu thế kỷ XX (Moeller, 2004; Swinkels, 2012; Gamage, và cộng sự, 2014). Al-Twaijry và cộng sự (2003) cho rằng DN có được bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ đạt được hai (2) giá trị.
Thứ nhất, KTNB cải thiện hoạt động của tổ chức và quản trị rủi ro. Thứ hai, KTNB giúp tổ chức ngăn ngừa và phát hiện những sai sót hoặc gian lận, và bảo vệ tài sản của DN. Tầm quan trọng của KTNB đã được xác nhận trong nhiều quy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 định khác nhau như Đạo luật Sarbanes Oxley (2002) và Nguyên tác Quản trị DN của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2004). DN có thể không nhận ra vai trò của lý thuyết và thực tiễn của KTNB ở các nước đang phát triển, vấn đề này được xác nhận bởi các bài nghiên cứu thực tiễn tại các nước Libya, Tanzania, Kenya, và Ethiopia (Abu-Azza, 2012; Ramachandran và cộng sự, 2012; Changwony & Rotich, 2015; Wubishet & Dereje, 2014).
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã chú trọng vai trò của KTNB và KTVNB (“KTVNB”) đối với các hoạt động của DN hơn so với trước đó (George và cộng sự, 2015; Baharud- din và cộng sự, 2014; Changwony & Rotich, 2015). Trong khi đó, sự chú trọng này đã làm gia tăng các vấn đề như đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả của KTNB (Arena & Azzone, 2009; Mihret, 2010; Mihret & Yismaw, 2007; Abu-Azza, 2012; Belay, 2007; Wubishet & Dereje, 2014; Ramachandran và cộng sự, 2012; Endaya & Hanefah, 2013; George và cộng sự, 2015). Trong môi trường kinh doanh thay đổi, bộ phận KTNB xem xét xu hướng tổ chức và tập trung vào phương pháp tư vấn, trong đó, tổ chức hoạt động hữu hiệu và hiệu quả hơn độ chính xác được ghi nhận (Karapetrovic & Willborn, 2000). KTNB đã thay đổi từ hệ thống kiểm tra độ chính xác số học của quá trình kế toán để góp vào giá trị tăng thêm (Staciokas & Rupsys, 2005).
Vai trò tăng thêm giá trị đang giúp DN đạt được mục tiêu kinh tế, hữu hiệu và hiệu quả (Al-Twaijry và cộng sự, 2003; Arena & Azzone, 2009). Mặt khác, giá trị tăng thêm cũng bị ảnh hưởng bởi tính hiệu quả của KTNB (Mihret A., 2011; Mihret và cộng sự, 2010; Mihret & Woldeyohannis, 2008). Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, bộ phận KTNB không phải lúc nào cũng có hiệu quả (Al-Twaijry và cộng sự, 2003; Mihret và cộng sự, 2010; Mihret & Yismaw, 2007; Wubishet & Dereje, 2014; Ramachandran và cộng sự, 2012). Một số nhà nghiên cứu đã ủng hộ việc tiếp cận tính hiệu quả của KTNB thông qua những phạm vi khác nhau (Abu-Azza, 2012; Al-Twaijry và cộng sự, 2003; Mihret và cộng sự, 2010; Mihret LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 & Yismaw, 2007; Wubishet & Dereje, 2014; Ramachandran và cộng sự, 2012; George và cộng sự, 2015).
Nghiên cứu về kiểm toán thường được tiến hành và diễn giải dưới khía cạnh lý thuyết của Lý thuyết ủy nhiệm (Pilcher và cộng sự, 2011; Endaya & Hanefah, 2013). Nhưng đó lại là nguyên nhân chính cho sự hạn chế các các nghiên cứu về KTNB (Mihret và cộng sự, 2010). Kết quả của một số nhà nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng Thuyết định chế (Mihret và cộng sự, 2010; Abu-Azza, 2012). Bài nghiên cứu này đã cố gắng áp dụng và giải thích kết quả nghiên cứu theo một quan điểm mới dựa trên nền tảng lý thuyết Endaya & Hanefah (2013) để xác định hiệu quả của KTNB, không giống với các công trình nghiên cứu trước đây (Arena & Azzone, 2009; Mihret, 2010; Belay, 2007; Wubishet & Dereje, 2014; Ramachandran và cộng sự, 2012; Mihret & Yismaw, 2007; Changwony & Rotich, 2015; Al-Twaijry và cộng sự, 2004).
Cách tiếp cận mới được áp dụng từ lý thuyết Endaya & Hanefah (2013) là sự kết hợp giữa ba lý thuyết thành phần: Lý thuyết ủy nhiệm, Thuyết định chế và Thuyết truyền thông. Trong bài nghiên cứu này, Lý thuyết ủy nhiệm chủ yếu được sử dụng để hiểu động cơ kinh tế làm cho các KTVNB tìm cách đạt được lợi ích cá nhân của họ ngay cả khi chống lại lợi ích của tổ chức và các thành viên của tổ chức. Thuyết định chế được thông báo về mức độ tuân thủ SPPIA (“Standards for the Professional Practice of Internal Auditing“)và ảnh hưởng của nó đến sự hỗ trợ của nhà quản trị đến KTNB. Thuyết truyền thông được sử dụng để giải thích tầm quan trọng của việc giao tiếp hiệu của giữa KTVNB với các đối tượng được kiểm toán, KTVNB và kiểm toán viên độc lập.
Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, có khá nhiều bài nghiên cứu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB trong các loại hình DN, được thể hiện thông qua các công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của các trường đại học. Các nghiên cứu sẽ được người viết trình bày theo thời gian LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thông qua tóm tắt sơ lược về nội dụng, giới hạn nghiên cứu và hướng nghiên cứu gợi ý trong tương lai. Chrsitopher và cộng sự (2009), đã đo lường mức độ độc lập của bộ phận KTNB tại 34 DN Úc thông qua mối liên hệ giữa nhà quản trị và ủy ban kiểm toán. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua thư điện tử gửi đến các trưởng bộ phận KTNB, xác định các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của KTNB thông qua ủy ban kiểm toán.
Những nguy cơ có thể bao gồm trưởng bộ phận KTNB không báo cáo kịp thời cho ủy ban kiểm toán, ủy ban kiểm toán không chịu trách nhiệm trong việc chỉ định, giám sát và đánh giá kết quả của KTNB, và thành viên của ủy ban kiểm toán thiếu năng lực về kế toán tài chính. Qua đó, ta thấy được, Christopher và cộng sự đã đánh giá và đo lường tính độc lập của KTNB dựa trên việc khảo sát các Doanh nghiệp, từ đó rút ra được mức độ ảnh hưởng của yếu tố này đến tính hiệu quả của KTNB. Jantipa Dejnaronk (2015), đã thực hiện khảo sát để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB trong các DN tại Thái Lan. Tác giả cũng thực hiện khảo sát, sử dụng mô hình hồi quy, mô hình phương trình cấu trúc (“SEM”).
Kết quả cho thấy, tác giả đã xác định thêm ba (3) yếu tố mới ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB là (1) tuân thủ các nguyên tắc của IIA, (2) KTNB dựa trên việc xác định rủi ro, và (3) sự hiện diện của chương trình cải thiện và đảm bảo chất lượng. Thông qua bài nghiên cứu, Jantipa Dejnaronk đã đưa ra được thêm 3 yếu tố mới ảnh hưởng đến tính hiệu quả của KTNB, từ đó đề ra các giải pháp nhằm mục tiêu hoàn thiện bộ phận KTNB trong DN. Drogalas George và cộng sự (2015), đã thực hiện bài khảo sát trên 40 đối tượng là KTVNB của các DN tại Hy Lạp. Bài nghiên cứu đã chỉ ra bốn (4) yếu tố tác động đến tính hiệu quả của các DN KTNB là (1) chất lượng công việc của KTVNB, (2) tính độc lập của của KTVNB, (3) năng lực của KTVNB và (4) sự hỗ trợ của nhà quản trị.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây tại các nước đang phát triển. Đồng thời, người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 viết còn đưa ra các khuyến nghị để cải thiện chất lượng hoạt động KTNB tại các DN này. Marius Gros và cộng sự (2016) đã thực hiện khảo sát để đo lường chất lượng của KTNB trong việc thiết lập và vận hành hệ thống KTNB tại các DN Đức. Đồng thời, bài nghiên cứu còn thực hiện các thử nghiệm hồi quy để đo lường sự kết của một số đặc điểm chất lượng của KTNB ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính trong các DN này.
Kết quả cho thấy, hệ thống KTNB hoạt động hiệu quả ảnh hưởng tích cực đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính trong các DN. Kết quả này hỗ trợ tích cực quan điểm về KTNB là một yếu tố thiết yếu trong quản trị DN hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong việc lập báo cáo tài chính. Samar Yousry El-Tahan (2016) đã thực hiện luận văn về Áp dụng KTNB tại các nước đang phát triển: Trường hợp trong khu vực công tại Ai Cập. Bài nghiên cứu đo lường mức độ ảnh hưởng của KTNB trong khu vực công tại Ai Cập.
Bài viết còn chỉ ra rào cản trong việc áp dụng KTNB và đưa ra những khuyến nghị phù hợp để vượt qua rào cản này. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thông qua việc phỏng vấn các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này. Kết quả chỉ ra rằng, năng lực và tính độc lập của KTVNB trong khu vực công không cao.