Luận văn Thạc sĩ: Tính dự báo trong thơ Trần Tế Xương của Trần Văn Hải

Khám phá tính dự báo độc đáo trong thơ Trần Tế Xương qua luận văn thạc sĩ. Nghiên cứu sâu về nội dung, nghệ thuật và giá trị dự báo của Tú Xương.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

110
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp mới của luận văn

1.7. Cấu trúc của luận văn

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm tính dự báo và tính dự báo trong thơ

1.2. Thơ Trần Tế Xương - một hiện tượng thơ mang tính dự báo độc đáo

1.3. Những nguyên nhân của hoàn cảnh lịch sử, xã hội

1.4. Những nguyên nhân từ vấn đề văn hóa tư tưởng

1.5. Những nguyên nhân từ cuộc đời và con người nhà thơ

1.6. Tiểu kết chương 1

2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÍNH DỰ BÁO TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1. Bảng thống kê khảo sát các sáng tác mang tính dự báo của Trần Tế Xương

2.2. Những biểu hiện cụ thể của tính dự báo trong thơ Trần Tế Xương

2.3. Vấn đề thi cử

2.4. Dự báo các vấn đề thi cử của bản thân

2.5. Vấn đề lối sống và thân phận con người trong xã hội giao thời

2.6. Lối sống và thân phận người trí thức

2.7. Lối sống và thân phận những con người trong xã hội thị dân

2.8. Tiểu kết chương 2

3. TÍNH DỰ BÁO TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG GÓP PHẦN TẠO NÊN NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT

3.1. Tính dự báo góp phần phản ánh hiện thực

3.2. Tính dự báo góp phần cá thể hóa hình tượng tác giả

3.3. Tính dự báo góp phần tạo giọng điệu riêng biệt cho ngôn ngữ thơ Trần Tế Xương

3.4. Tính dự báo góp phần tạo cái nhìn riêng độc đáo cho hình tượng tác giả

3.5. Tính dự báo góp phần tạo nên những cách tân nghệ thuật mới mẻ cho thơ Nôm Đường luật

3.6. Tính dự báo góp phần tạo sự đổi mới căn bản trong thơ Tú Xương từ quan niệm văn học, đề tài, chủ đề, hình tượng nhân vật

3.7. Tính dự báo góp phần tạo nên những cách tân về bút pháp, nhịp điệu, cách mở đầu và kết thúc tác phẩm

3.8. Tính dự báo góp phần làm tăng tính đối thoại trong thơ trào phúng Trần Tế Xương

3.9. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tú Xương Tổng Quan Về Nhà Thơ và Tính Dự Báo Trong Thơ 55 ký tự

Trần Tế Xương, hay Tú Xương, là một nhà thơ trào phúng nổi tiếng của Việt Nam, sống trong giai đoạn giao thời đầy biến động. Thơ ông không chỉ phản ánh hiện thực xã hội đương thời mà còn chứa đựng những dự báo về tương lai. Nghiên cứu chuyên sâu về tính dự báo trong thơ Tú Xương giúp ta hiểu rõ hơn về tài năng, tư tưởng và giá trị văn chương của ông. Trần Tế Xương là một hiện tượng văn học độc đáo, có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Việt Nam. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, trào phúng, đồng thời thể hiện sự quan điểm xã hội của nhà thơ về những vấn đề nóng bỏng của thời đại. Những biến đổi chính trị, kinh tế, xã hội đã tác động mạnh mẽ đến sáng tác của Tú Xương, khiến thơ ông mang tính dự báo sâu sắc. Điều này làm nên sự khác biệt và giá trị lâu bền của thơ Tú Xương. Theo Nguyễn Tuân, Tú Xương là: “Một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam”. Trần Thanh Mại gọi Tú Xương là “một nhà thơ thiên tài”. Ông Lê Đình Kỵ coi hiện tượng thơ Tú Xương là “đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam”. Giáo sư Nguyễn Đình Chú thì cho rằng: “Tú Xương là người mở đầu, người báo hiệu cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực trong thơ ca Việt Nam”.

1.1. Bối Cảnh Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Thơ Tú Xương

Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19 chứng kiến nhiều biến động lớn do thực dân Pháp xâm lược. Chế độ phong kiến suy tàn, văn hóa phương Tây du nhập, gây ra sự xung đột giữa cái cũ và cái mới. Bối cảnh xã hội này ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sáng tác của Tú Xương, khiến thơ ông mang tính dự báo về sự thay đổi và những hệ lụy của nó. Sự chuyển mình diễn ra trong tất cả các lĩnh vực từ ngôn ngữ, giáo dục, văn học nghệ thuật…đến chính trị.

1.2. Cuộc Đời và Sự Nghiệp Văn Chương Tú Xương

Cuộc đời Tú Xương lận đận, thi cử không thành, sống cuộc đời nghèo khó. Tuy nhiên, chính những trải nghiệm cá nhân này đã giúp ông có cái nhìn sâu sắc về xã hội và con người. Sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu tập trung vào thơ trào phúng, với giọng điệu châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội. Sự nghiệp văn chương Tú Xương đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học Việt Nam, với phong cách thơ độc đáo và giọng điệu trào phúng đặc trưng.

II. Vấn Đề Thi Cử Dự Báo Suy Vi và Hướng Đi Mới 56 ký tự

Một trong những chủ đề nổi bật trong thơ Tú Xương là vấn đề thi cử. Tú Xương dự báo về sự suy vi của nền Hán học và sự thay đổi trong hệ thống thi cử. Ông cũng tiên đoán về số phận của những nhà nho không theo kịp thời đại. Vấn đề thi cử không chỉ là nỗi trăn trở cá nhân mà còn là sự phản ánh về thực trạng xã hội. Sự thay đổi trong giáo dục, văn hóa đã khiến nhiều nhà nho mất phương hướng. Sự dự báo của Tú Xương về sự thay đổi này cho thấy tầm nhìn của ông về tương lai. Ông chế giễu chế độ khoa cử “Nghe nói năm nay sắp đổi thi/ Các thầy đồ cổ đỗ mau đi”, nhưng lại mong mình cũng đỗ đạt để lưu danh: “Anh lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ”.

2.1. Dự Báo Về Sự Thay Đổi Trong Cách Thi Cử

Tú Xương dự báo về việc nhà nước sẽ bỏ dần thi chữ Hán, thay vào đó là thi chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Điều này thể hiện sự nhạy bén của ông trước sự thay đổi của thời đại. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng khiến ông cảm thấy tiếc nuối cho thơ Nôm Tú Xương và nền văn hóa truyền thống. Trong bài Chữ nho ông bày tỏ nỗi buồn sâu sắc trước sự bất lực, hết thời của giai cấp mình trước thực tế cuộc sống và dự đoán một hướng đi khác cho tầng lớp nho sĩ đang bị coi là cũ kĩ lỗi thời.

2.2. Số Phận Của Những Nhà Nho Không Kịp Thời Đại

Tú Xương tiên đoán về số phận của những nhà nho không chịu thay đổi, không theo kịp thời đại. Họ sẽ bị xã hội bỏ lại phía sau, sống cuộc đời nghèo khó và lạc lõng. Số phận nhà nho cuối mùa là một trong những nỗi trăn trở lớn của Tú Xương. Với tiếng cười trào lộng, nhà thơ đi sâu khai thác và biếm họa mọi nhân vật, từ vẻ ngoài đến vai trò, vị thế và đi đến khái quát được bản chất xã hội qua thực trạng hình thức thi cử. Có thể thấy thủ pháp châm biếm, "hí họa" trong bút pháp trào phúng của Trần Tế Xương qua từ “nằm co”, thể hiện sự bất lực, vô tác dụng đã làm nên mối quan hệ hai chiều: trào phúng gắn quyện với trữ tình, vẽ nên hoạt cảnh thi cử bi hài và lên tiếng thức tỉnh lương tâm người trí thức trước thực trạng xã hội đương thời.

2.3. Ảnh Hưởng Của Thi Cử Đến Cuộc Đời Tú Xương

Tú Xương nhiều lần thi cử không đỗ, cuộc sống nghèo khó đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và sáng tác của ông. Thi cử không thành khiến cho ông không có cơ hội bước chân lên một nấc thang cao cấp nào trong xã hội cũ được. Và nếu nói về nghề nghiệp thì dường như cũng không có một nghề nghiệp nào cố định đối với ông. Ngay cả việc gõ đầu trẻ xem ra cũng chẳng được xem là một nghề.

III. Đô Thị Hóa Cảnh Báo Về Sự Tha Hóa Con Người 52 ký tự

Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong thời đại Tú Xương. Ông nhận thấy những thay đổi tiêu cực trong xã hội, cảnh báo về sự tha hóa của con người, sự mất đi những giá trị văn hóa truyền thống. Đô thị hóa không chỉ mang đến sự phát triển mà còn kéo theo nhiều hệ lụy. Cái nhìn châm biếm của Tú Xương về những thay đổi này cho thấy sự lo lắng của ông về tương lai của dân tộc. Nhìn chung, Nho giáo đến cuối thế kỉ XIX vẫn được coi là hệ tư tưởng chính thống. Tuy nhiên, đường lối học hành cử tử, suốt ngày chỉ quanh quẩn bàn định những câu chuyện trong sử sách cũ đã làm hạn chế sự sáng tạo của người đi thi. Đối với việc chống giặc cứu nước là việc cấp thiết nhất lúc bấy giờ nó lại càng tỏ ra không hữu dụng và bộc lộ những hạn chế vốn có từ trước. Tư tưởng tin vào “mệnh trời” sẽ quyết định mọi sự thành bại ở đời vẫn hiện hữu trong đầu óc thủ cựu của tầng lớp trí thức khiến họ trở nên không sáng suốt trước thực tại.

3.1. Sự Xâm Nhập Của Văn Hóa Phương Tây và Ảnh Hưởng Của

Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam, tạo ra sự xung đột giữa cái cũ và cái mới. Tú Xương phê phán những người chạy theo lối sống Tây hóa, quên đi bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, các nhà nho vẫn thể nghiệm những suy nghĩ riêng và tình cảm riêng, lối viết riêng tạo nên những cá tính độc đáo. Tiêu biểu nhất phải kể đến Trần Tế Xương, một loại hình tác giả đặc biệt của văn học giao thời, một phong cách văn chương độc nhất vô nhị lưu truyền hậu thế.

3.2. Sự Thay Đổi Đạo Đức và Giá Trị Xã Hội

Đô thị hóa khiến đạo đức và giá trị xã hội bị đảo lộn. Con người trở nên thực dụng, coi trọng tiền bạc hơn tình cảm. Giá trị nhân văn trong thơ Tú Xương được thể hiện qua sự phê phán những thói hư tật xấu của xã hội, đồng thời thể hiện niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của con người. Cái nhìn của Tú Xương cũng mang một sự bi quan nhất định. Những chính sách cải cách tiến bộ tuy được các trí thức thời ấy trình lên triều đình nhưng không được chấp nhận.

IV. Thân Phận Con Người Tiên Tri Về Sự Bế Tắc và Khổ Đau 56 ký tự

Tú Xương dự báo về số phận bấp bênh, khổ đau của con người trong xã hội đương thời. Ông thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, những người bị xã hội bỏ rơi. Vận mệnh cá nhân được thể hiện qua những bài thơ tự trào, than thân trách phận. Tư tưởng đó làm nên sự đặc sắc riêng trong phong cách thơ Tú Xương. Xuất thân là một Nho sĩ, nhưng ý thức được một cách sâu sắc sự thay thế tai hại nhưng tất yếu của chủ nghĩa tư bản trước hình thái xã hội phong kiến, ông rơi vào trạng thái vừa muốn cưỡng lại, vừa muốn buông trôi… Thơ ông như tiếng cười gằn, chửi đổng báo hiệu sự phá sản hoàn toàn của lập trường, lí tưởng, đạo đức thẩm mĩ của Nho gia.

4.1. Sự Bế Tắc Của Tầng Lớp Trí Thức

Tú Xương cảm nhận được sự bế tắc của tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ không tìm được chỗ đứng, không phát huy được tài năng. Phong cách thơ Tú Xương thể hiện rõ sự trào phúng, châm biếm, nhưng ẩn sâu bên trong là nỗi buồn và sự thất vọng về xã hội. Bản thân Tú Xương cũng thuộc tầng lớp này nên ông thấu hiểu những khó khăn và bất lực của họ.

4.2. Nỗi Khổ Của Những Người Nghèo Khó

Tú Xương thương cảm cho những người nghèo khổ, những người phải vật lộn để kiếm sống. Ông thể hiện sự đồng cảm với họ, lên án sự bất công của xã hội. Trong sáng tác của Tú Xương, không chỉ có những nho sĩ tri thức không có tài năng mà còn có những con người thuộc về tầng lớp lao động bị khinh rẻ trong xã hội.

4.3. Ảnh Hưởng đến văn học đương thời

Ảnh hưởng của Tú Xương đến văn học Việt Nam là rất lớn, đặc biệt là dòng thơ trào phúng, hiện thực. Thơ ông đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà thơ sau này.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm tính dự báo và tính dự báo trong thơ 10 download by : skknchat@gmail. Khái niệm tính dự báo Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê “dự báo là báo trước về tình hình có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựa trên cơ sở những số liệu, thông tin đã có (thường nói về hiện tượng thiên nhiên, xã hội)” [50; 359]. Như vậy, tính dự báo nghĩa là khả năng có thể đoán trước được các sự việc hiện tượng có thể xảy đến trong tương lai và kết quả là sau đó các sự việc, hiện tượng có diễn ra đúng như điều đã được dự đoán trước đó.

Trên thế giới có nhiều nhà tiên tri nổi tiếng có khả năng dự báo các vấn đề của xã hội loài người. Chẳng hạn nhà tiên tri mù Vanga. Bà có thể tiên đoán được rất nhiều sự kiện chính xác như: vụ tàu ngầm Kursk, các cuộc xung đột trong tiểu lục địa Ấn Độ (gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) với cuộc mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ đã trở thành một trong những nguyên nhân bùng nổ Thế chiến III vào năm 2010, vụ khủng bố tháp đôi ngày 11/9/2011… Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả trùm phát xít Adolf Hitler.

Hắn từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu. Khả năng phi thường của bà Vanga liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình không rõ nguồn gốc cho bà thông tin về con người - từ khi họ sinh ra đến lúc họ chết đi. Tuy nhiên, không chỉ có các nhà tiên tri mới có khả năng tiên đoán được trước các sự kiện xảy ra trong tương lai của đời sống xã hội loài người mà ngay cả các nhà thơ, nhà văn cũng có những khả năng đó. Bằng những hiểu biết thấu đáo, cặn kẽ của mình về các vấn đề của con người, xã hội, các tác giả văn học có thể đưa vào các tác phẩm của mình những tiên đoán chính xác cho tương lai.

Đôi khi, tính dự báo trở thành một tiêu chí để đánh giá các tác phẩm văn học. Theo nhà thơ Thanh Thảo, thơ có đi trước được thời đại hay không ấy là về mặt dự báo chứ về mặt hình thức thì nó phải tương thích với thời đại. Nhà thơ Thanh Thảo cũng cho biết: “Khả năng dự báo của thơ Việt Nam bây giờ thiếu, mà nhà thơ hơn nhau là ở tính dự báo trong thơ. Nền văn học Nga lớn như vậy là vì trong nó đầy tính dự báo, đầy ẩn ức, đầy linh cảm.

Thơ ca Nga đầu thế kỷ XX kỳ lạ nhất thế giới là vì như vậy, nó báo trước cuộc Cách mạng tháng Mười đầy dữ dội khủng khiếp. Thơ trẻ ở ta, kể cả những nhà thơ thành danh khả năng dự 11 download by : skknchat@gmail.com báo là yếu, ăngten bắt sóng kém. Bây giờ có VINASAT-1, chẳng hiểu Thơ Việt có tăng được khả năng bắt sóng và dự báo không?” [65]. Chính vì vậy, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về những biểu hiện của tính dự báo trong văn học nói chung.

Tính dự báo trong văn học 1. Tính dự báo trong văn học thế giới Thực tế đời sống của con người, bên cạnh những nhu cầu về đời sống vật chất còn có nhu cầu thỏa mãn về đời sống tinh thần. Con người đã sáng tạo ra rất nhiều những sản phẩm để phục vụ cho đời sống tinh thần của mình, một trong các sản phẩm đó chính là văn học. Để đáp ứng yêu cầu trên của con người, văn học có một số chức năng tiêu biểu như: chức năng thông tin, chức năng giáo dục, chức năng giải trí, chức năng thẩm mỹ… Bên cạnh đó, dự báo cũng là một trong những đặc tính rất quan trọng của văn học bởi từ việc phản ánh các vấn đề của hiện thực, văn học có khả năng tiên đoán, báo trước những vấn đề sẽ xảy ra trong đời sống con người, giúp con người định hướng về tương lai.

Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi. Phản ánh cuộc sống một cách sinh động và toàn vẹn, văn học có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực.

Chính từ độ chín của những khám phá, nắm bắt đó, văn học có khả năng dự báo cho tương lai. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện rõ được năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động cuộc đời của nhà văn như: sự tiên đoán về những tiến trình xã hội mới, những xu hướng mới ngay khi cuộc sống còn đang trong trạng thái bình yên, phẳng lặng. Và khi nhà văn có thái độ nhìn thẳng vào sự thật để cảnh báo những nguy cơ đe dọa cuộc sống của con người, khi đó văn học thường có tính dự báo. Vậy là trong cảnh báo 12 download by : skknchat@gmail.

Giá trị dự báo của tác phẩm văn học, do đó, chính là khả năng nhìn thấy trước những vấn đề lớn, những vấn đề sẽ tác động trực tiếp, sâu sắc, quyết định đến cuộc sống của con người cũng như toàn xã hội trong xu thế vận động và phát triển của nó. Có được điều đó là bởi các nhà văn vốn dĩ không bao giờ đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận, đánh giá cuộc sống trong quá trình vận động và phát triển. Yếu tố tiên tri được xem như là một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên mức độ dự báo, tính chất dự báo, nội dung dự báo là không phải như nhau trong các trào lưu văn học.

Bên cạnh những tác phẩm thể hiện sự lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào tương lai cũng như con người thì cũng có không ít tác phẩm bộc lộ sự hoài nghi, chán nản, bi quan tuyệt vọng đối với tương lai của loài người. Tuyệt vọng hay bi quan với tương lai là do cá tính của mỗi nhà văn quy định và cũng một phần do các yếu tố ngoại cảnh bên ngoài tác động, chi phối. Mức độ của tính dự báo nhiều hay ít, chính xác hay không chính xác trong văn học cũng bị chi phối bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Bởi trong một cuộc sống mà mọi thứ đều ổn, đều tốt đẹp, con người hài lòng với nó thì nhà văn không có gì phải băn khoăn, dự cảm, âu lo… Hoặc giả, nếu nhà văn né tránh sự thật hay vuốt ve, mơn trớn cuộc sống bằng một tình cảm dễ dãi, thì không bao giờ tiếp cận được chân lý.

Chỉ khi nào cuộc sống bị đảo lộn, các giá trị nhân bản bị đe dọa và có nguy cơ bị hủy diệt, nghĩa là con người đứng trước những hiểm họa người ta mới cần cảnh báo. Trong trường hợp này chức năng dự báo có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với chức năng nhận thức. Tuy nhiên, không nên hiểu chức năng nhận thức chỉ là đem lại cho người đọc tri thức gì mới, mà nó đem lại cho người viết những trải nghiệm, nhận thức gì về thế giới. Bởi việc nhận thức sâu sắc về thế giới bao giờ cũng giúp nhà văn sớm nhìn ra được những vấn đề thuộc bản chất của nó.

Cho nên, có thể coi văn học nghệ thuật như là một thứ giác quan đặc biệt, là cái ăng-ten nhạy cảm đặc biệt của xã hội. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Có những ngày đang nắng chang chang, vậy mà mở cái radio ra cứ nghe rẹt rẹt trên các làn sóng, thì ra gió mùa đông bắc đã ở bên kia biên giới, cơn giông sắp đến. Văn nghệ là cái ăng-ten ấy. Puskin 13 download by : skknchat@gmail.com gọi thi sĩ là nhà tiên tri.

Gorki thì nói đến Chim báo bão. Còn Nguyễn Du của ta thì viết "Bất tri tam bách dư niên hậu. [45] Trên thế giới có rất nhiều nhà tiên tri đã dùng văn học để đưa ra được những lời sấm truyền hoặc lợi dụng tính dự báo của văn học để lưu truyền trong dân gian những lời tiên đoán về số phận và tương lai của loài người một cách hợp pháp. Chẳng hạn, Nostradamus (1503-1566) là dược sĩ và nhà tiên tri người Pháp.

Ông còn được biết đến với biệt danh "đầy tớ của ma quỷ" bởi tất cả những lời tiên tri của Nostradamus đều không được viết bằng thứ ngôn ngữ phổ thông minh bạch mà đều được viết theo kiểu ẩn ngữ, chơi chữ, hoặc dùng tiếng Hy Lạp, Do Thái, Ả Rập, Italy… là những ngôn ngữ khó. Đó là một lựa chọn thận trọng bởi Nostradamus không muốn bị kết tội dị giáo, phù thủy, mê tín dị đoan… Một trong những người đầu tiên kinh hãi trước lời tiên tri của Nostradamus là hoàng đế Henry II của Pháp. Ông vua 46 tuổi khi thấy sức khỏe sa sút đã gọi Nostradamus vào cung để hỏi về số phận mình, và nhận được lời tiên đoán: “Có một ngày, đầu của bệ hạ sẽ bị đâm bởi một vật sắc nhọn và đó là nguyên nhân khiến người băng hà. Điều đó sẽ xảy đến trong 10 năm nữa”.

Điều đáng nói là lời tiên đoán này lại đúng và vì vậy người ta thành ra sợ những tiên đoán của ông. Về sau để có thể an toàn và hợp thức hóa những lời tiên tri của mình cũng như để tránh bị soi xét, Nostradamus đã nghĩ ra cách làm giảm đi ý nghĩa của những lời tiên tri bằng những vần thơ. Ông quyết định dành tất cả những năng lượng của mình vào việc viết sách, mỗi cuốn sách sẽ gồm 10 chương, mỗi chương là 100 dự đoán viết dưới dạng thơ tứ tuyệt. Trong các tác phẩm của ông người ta thấy vận mệnh của một vị hoàng đế khác sống sau đó 2 thế kỷ cũng được Nostradamus đoán đúng là Napoleon - người bách chiến bách thắng nhưng thất bại ở Nga, rồi mất vương quyền.

Nostradamus chỉ rõ: Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh Khi ông giành được quyền lực tối cao Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang 14 download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ