Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu tìm hiểu về tài nguyên rừng và chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2001 - 2010" được tác giả Trần Thị Hồng Nga thực hiện năm 2003 dưới sự hướng dẫn của TS. Đinh Thị Quỳnh Như tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề tài xuất phát từ thực tiễn địa lý - kinh tế: Đắk Lắk là tỉnh có diện tích tự nhiên và diện tích rừng lớn nhất cả nước (thời điểm nghiên cứu gần 1,9 triệu ha, trong đó đất có rừng chiếm hơn một nửa). Rừng Đắk Lắk không chỉ là nguồn cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân và các tỉnh Tây Nguyên, mà còn giữ chức năng phòng hộ môi trường trọng yếu đối với vùng Nam Trung Bộ và miền Nam. Tuy nhiên, trong thập niên 1990 - 2000, tài nguyên rừng tại địa phương đã suy thoái nghiêm trọng cả về diện tích lẫn trữ lượng gỗ do nhiều tác động nhân sinh phức tạp, khiến thiên tai hạn hán và lũ lụt gia tăng. Bên cạnh mục tiêu giải quyết vấn đề thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài nhằm tích lũy kiến thức địa lý địa phương phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy sau này.

Mục đích nghiên cứu bao gồm: củng cố và vận dụng tri thức địa lý vào đời sống kinh tế - xã hội; đánh giá tổng hợp hiện trạng tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng của tỉnh Đắk Lắk; tìm hiểu định hướng chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:

  1. Xác định cơ sở khoa học của việc đánh giá tài nguyên rừng.
  2. Tìm hiểu công tác khảo sát, đánh giá các loại tài nguyên rừng của tỉnh.
  3. Tìm hiểu hiện trạng khai thác gỗ và lâm sản của địa phương.
  4. Phân tích nguyên nhân suy thoái tài nguyên rừng trong những năm qua nhằm đề xuất các biện pháp bảo vệ, ngăn chặn tình trạng suy thoái.
  5. Xác định chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp trong giai đoạn 2001 - 2010 phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk.

Đối tượng nghiên cứu chính là tài nguyên rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng), tập trung vào khía cạnh thực vật rừng. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Đắk Lắk (theo địa giới hành chính thời điểm 2002 - 2003, bao gồm cả không gian tỉnh Đắk Nông hiện nay). Phạm vi thời gian theo dõi dữ liệu thực tế tập trung từ năm 1995 đến năm 2002, với tầm nhìn định hướng chiến lược đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các khái niệm kinh tế tài nguyên và môi trường học làm nền tảng lý thuyết:

  • Khái niệm tài nguyên: Tài nguyên thiên nhiên được chia thành tài nguyên vô hạn và tài nguyên hữu hạn; trong đó tài nguyên hữu hạn gồm tài nguyên tái tạo được (RR - Renewable Resource: đất, nước, sinh vật, không khí) và tài nguyên không tái tạo được (ER - Exhaustible Resource: khoáng sản, thông tin di truyền). Tác giả lưu ý tính chất phân chia này chỉ mang tính tương đối vì tài nguyên tái tạo có thể bị cạn kiệt nếu khai thác quá mức.
  • Khái niệm môi trường và hệ sinh thái: Tiếp cận định nghĩa môi trường từ Ngân hàng Thế giới (WB, 1980), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Điều 1 Chương I Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 1994, định nghĩa của Hội nghị quốc tế ngôn ngữ Pháp (1976), cùng các quan điểm của F. Botiere (1971), I.P. Gerasimov (1972) và định nghĩa hệ sinh thái của P. Tanghe.
  • Khung lý thuyết sinh thái rừng của GS.TS. Thái Văn Trừng: Khóa luận áp dụng hệ thống phân tích 5 nhóm nhân tố sinh thái hình thành hệ sinh thái rừng, gồm: địa lý - địa hình, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật, sinh vật và con người.

Về mặt phương pháp luận, tác giả triển khai nghiên cứu dựa trên 6 quan điểm:

  • Quan điểm hệ thống lãnh thổ;
  • Quan điểm tổng hợp;
  • Quan điểm môi trường sinh thái;
  • Quan điểm lịch sử viễn cảnh;
  • Quan điểm phát sinh;
  • Quan điểm quản lý rừng bền vững (dựa trên 3 trụ cột: bền vững môi trường, bền vững xã hội, bền vững kinh tế).

Các phương pháp nghiên cứu kỹ thuật bao gồm:

  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát thực tế, tiếp cận và ghi nhận dữ liệu từ các cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp thống kê: Thu thập, phân loại, tính toán, xử lý chuỗi số liệu thứ cấp từ văn phòng.
  • Phương pháp biểu đồ, bản đồ: Sử dụng hệ thống bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế - xã hội và bản đồ du lịch tỉnh Đắk Lắk để phân tích không gian phân bố tài nguyên.

Nguồn dữ liệu của đề tài được cung cấp trực tiếp từ các cơ quan ban ngành tỉnh Đắk Lắk: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển lâm nghiệp, Sở Lâm nghiệp, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, cùng các tài liệu thống kê chuyên ngành lâm nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài

Chương này trình bày hệ thống hóa cơ sở khoa học về tài nguyên rừng và mối liên hệ sinh thái. Rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái trong đó các loại cây gỗ chiếm vai trò ưu thế, cấu thành từ các chất vô cơ, chất hữu cơ và sinh vật sống (sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng gồm sinh vật tiêu thụ bậc 1, 2, 3 và sinh vật phân hủy). Hệ thống vận hành thông qua dòng năng lượng (thực vật chỉ hấp thụ khoảng 1% bức xạ mặt trời để quang hợp) và chu trình sinh địa hóa khép kín.

Năm nhóm nhân tố hình thành hệ sinh thái rừng theo GS.TS. Thái Văn Trừng được phân tích chi tiết:

  • Nhóm địa lý - địa hình (vĩ độ, kinh độ, độ cao, sườn dốc) chi phối gián tiếp;
  • Nhóm khí hậu - thủy văn giữ vai trò chủ đạo quyết định hình dạng và cấu trúc;
  • Nhóm thổ nhưỡng quyết định sự phân bố loài;
  • Khu hệ thực vật quyết định nguồn gốc phát sinh;
  • Nhóm sinh vật và con người tác động trực tiếp hai chiều (phá hủy hoặc cải tạo, phục hồi).

Về mặt cấu trúc, rừng được phân tích qua các chỉ tiêu: thành tố, phân tầng, mật độ, tuổi, độ tàn che và độ che phủ. Quá trình tái sinh rừng diễn ra dưới 3 hình thức sinh học (hạt, chồi, thân ngầm) và được can thiệp bằng 3 phương thức lâm sinh: tái sinh tự nhiên, tái sinh nhân tạo và xúc tiến tái sinh tự nhiên. Khái quát về hệ sinh thái rừng Việt Nam cho thấy sự phong phú đặc trưng của rừng nhiệt đới với khoảng 12.000 loài thực vật (1.800 loài làm dược liệu, 600 loài cho tanin, 500 loài tinh dầu, 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho dầu béo), nhưng đang suy thoái nghiêm trọng khi mất hơn 5 triệu ha rừng trong vòng 40 năm.

Chương II: Tài nguyên rừng ở Đắk Lắk

Chương II tập trung phân tích thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên rừng Đắk Lắk đến năm 2002. Địa hình tỉnh chia làm 4 dạng: miền núi (núi cao Chư Yang Sin 2.442 m, Chư Sên 600 - 700 m); cao nguyên (Đắk Mil - Đắk Nông 500 - 900 m, M'Đrắk 450 - 500 m, Buôn Ma Thuột 300 - 800 m); bình nguyên Ea Súp (200 - 300 m); vùng thấp trũng Lắk (400 - 500 m). Khí hậu chia thành 3 vùng mưa: cao nguyên Đắk Nông (3.200 mm), trung tâm Đắk Lắk (1.600 mm), M'Đrắk và Đông Krông Búk (1.757 mm). Hệ thống thủy văn gồm lưu vực sông Sêrêpôk (340 km qua tỉnh), sông Đồng Nai (3.462 km² qua tỉnh) và sông Ba (1.500 km² qua tỉnh). Đất đai gồm 8 nhóm chính, trong đó đất xám chiếm 763.485 ha và đất đỏ bazan chiếm 704.494 ha.

Dân số Đắk Lắk tăng từ 350.000 người (năm 1975) lên gần 1,9 triệu người (năm 2000), chủ yếu do di dân cơ học với 44 dân tộc sinh sống (người Kinh 65%, Êđê 10,2%, Gia Rai 10%, M'Nông 4,8%). Tình trạng di dân tự do bình quân mỗi năm từ 2.000 - 3.000 hộ (trên 10.000 người), cộng với cơn sốt giá cà phê giai đoạn 1995 - 1999 (diện tích cà phê tăng vọt từ 69.641 ha năm 1990 lên 259.030 ha năm 2000; hồ tiêu tăng từ 822 ha lên 6.095 ha; cao su tăng từ 13.975 ha lên 26.000 ha) đã tạo áp lực phá rừng gay gắt.

Theo số liệu điều tra năm 2002, diện tích đất lâm nghiệp và rừng toàn tỉnh là 1.132.548 ha (chiếm 57,9% diện tích tự nhiên). Không gian rừng phân bố trên 7 vùng sinh thái:

STT Vùng sinh thái rừng Diện tích tự nhiên (ha) Diện tích rừng (ha) Tỷ trọng diện tích rừng toàn tỉnh (%)
1 Bình nguyên Ea Súp 481.797 326.173 32,06
2 Cao nguyên Buôn Ma Thuột - Krông Búk - Ea H'Leo 316.173 91.166 8,96
3 Cao nguyên M'Đrắk 309.057 88.779 8,72
4 Vùng trũng Krông Pắc - Lắk 281.662 135.583 13,32
5 Cao nguyên Đắk Mil - Đắk Nông 390.868 255.406 25,09
6 Miền núi cao Chư Yang Sin 77.896 65.000 6,39
7 Đồi núi Rlang Dịa 75.848 55.735 5,48

Tổng trữ lượng gỗ toàn tỉnh ước đạt 108 triệu m³ và 1 tỷ cây tre nứa (riêng trữ lượng rừng gỗ tự nhiên đạt 94.414.972 m³ trên diện tích 836.733,9 ha). Trữ lượng tập trung chủ yếu ở cấp III (151 - 225 m³/ha) chiếm 53%, cấp IV (266 - 300 m³/ha) chỉ còn khoảng 4%. Bình quân diện tích rừng đạt 0,53 ha/người và trữ lượng gỗ đạt 56,8 m³/người. Rừng trồng đạt 10.908,6 ha với trữ lượng 611.000 m³, năng suất còn thấp (8 - 12 m³/ha/năm).

Phân loại theo công năng sử dụng:

  • Rừng đặc dụng: 10 khu bảo tồn thiên nhiên và di tích với 204.574 ha (Vườn quốc gia Yok Đôn 58.000 ha, Chư Yang Sin 59.957 ha, Tà Đùng 8.092 ha, Hồ Lắk 12.744 ha, Cư M'gar/Cư H'lâm 17.360 ha, Ea Sô 27.000 ha, Nam Nung 10.849 ha, Dray Sáp 4.155 ha, Ea H'Leo 100 ha, Lâm viên Ea Kao).
  • Rừng phòng hộ: 7 khu vực đầu nguồn xung yếu với 429.936 ha (Sêrêpôk 6.000 ha, biên giới 35.679 ha, Quốc lộ 14 là 14.220 ha, Thác Mơ 40.600 ha, Krông Năng 11.778 ha, phòng hộ công trình thủy lợi - thủy điện 72.760 ha, sườn dốc núi cao 172.000 ha).
  • Rừng sản xuất: Diện tích 423.134 ha (chiếm 37,4% diện tích rừng quy hoạch). Toàn tỉnh có 974 tiểu khu rừng sản xuất, nhưng theo đề án quản lý có tới 688 tiểu khu phải đóng cửa, chỉ còn 286 tiểu khu tiếp tục khai thác.

Về các kiểu rừng: Rừng kín thường xanh chiếm 836.733,9 ha (trữ lượng 300 - 350 m³/ha); rừng thưa rụng lá (rừng khộp họ Dầu) phân bố tập trung tại Ea Súp (tán che 0,2 - 0,4, cao 20 - 25 m, trữ lượng 50 - 60 m³/ha, tăng trưởng 2,1%/năm); rừng tre nứa chiếm 81.202,7 ha (nứa lá nhỏ 9.000 - 12.000 cây/ha, nứa lá to 3.000 - 4.000 cây/ha); rừng non tái sinh và thảm cỏ tự nhiên (chủ yếu ở M'Đrắk). Khu hệ động vật ghi nhận 93 loài thú (26 họ, 16 bộ), 197 loài chim (46 họ, 18 bộ); có 32 loài động vật có xương sống cạn quý hiếm Đông Dương, 17 loài trong Sách đỏ IUCN, cùng đàn voi thuần dưỡng trên 100 cá thể (tại Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông).

Chương III: Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2001 - 2010

Chương này trình bày các nội dung chiến lược định hướng ngành lâm nghiệp Đắk Lắk trong giai đoạn 10 năm:

  • Dự báo nhu cầu và sử dụng đất: Phân tích gia tăng dân số, nhu cầu gỗ gia dụng, củi đốt và quy hoạch quỹ đất phát triển lâm nghiệp bền vững.
  • Quan điểm và mục tiêu: Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên hiện có, kết hợp hài hòa mục tiêu kinh tế - xã hội với cân bằng sinh thái; cơ cấu lại ba loại rừng; hạn chế xuất khẩu gỗ thô, chuyển dần sang chế biến tinh sâu.
  • Lộ trình đóng cửa rừng: Đến giai đoạn 2006 - 2010 tiến tới đóng cửa hoàn toàn việc khai thác gỗ rừng tự nhiên, chuyển hẳn sang khai thác gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Giải pháp tổ chức: Sắp xếp lại hệ thống lâm trường quốc doanh, củng cố lực lượng kiểm lâm, chuyển đổi các ban quản lý rừng theo hướng tinh gọn và phân cấp trách nhiệm.
    2. Giải pháp công nghệ: Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô để tuyển chọn giống cây lâm nghiệp có năng suất cao, thâm canh rừng trồng để nâng năng suất vượt mức 8 - 12 m³/ha/năm; đổi mới công nghệ cưa xẻ, chế biến gỗ nhằm tiết kiệm nguyên liệu và giảm phế liệu.
    3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật lâm sinh, bồi dưỡng khuyến lâm cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; nâng cao dân trí và giải quyết sinh kế thay thế cho phương thức du canh du cư.
    4. Giải pháp về cơ chế chính sách: Đẩy mạnh giao đất khoán rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng; thực thi chính sách hưởng lợi rõ ràng từ rừng; hỗ trợ tài chính dài hạn và kiểm soát chặt chẽ tình trạng di dân tự do; gắn quy hoạch lâm nghiệp với chương trình định canh định cư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh hệ thống số liệu toàn diện về tài nguyên rừng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 1995 - 2002:

  • Hệ thống hóa hiện trạng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đạt 1.132.548 ha, chiếm 57,9% diện tích tự nhiên của tỉnh; tổng trữ lượng gỗ đạt 108 triệu m³ và 1 tỷ cây tre nứa.
  • Phân tích chi tiết cấu trúc phân bố không gian qua 7 vùng sinh thái rừng, chỉ rõ bình nguyên Ea Súp (32,06%) và cao nguyên Đắk Mil - Đắk Nông (25,09%) là hai địa bàn chiếm hơn 57% diện tích rừng toàn tỉnh.
  • Thống kê cơ cấu 3 loại rừng: xác định hiện trạng 10 khu bảo tồn thiên nhiên đặc dụng (204.574 ha) và 7 khu vực rừng phòng hộ (429.936 ha).
  • Phân tích sâu mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng suy thoái tài nguyên rừng với các biến động kinh tế - xã hội địa phương: tình trạng di dân tự do (2.000 - 3.000 hộ/năm) và làn sóng mở rộng diện tích cà phê quy mô lớn (tăng gần 190.000 ha trong 10 năm).
  • Đóng góp thực tiễn của khóa luận là trình bày cụ thể lộ trình đóng cửa rừng tự nhiên (đóng 688 tiểu khu rừng sản xuất và tiến tới ngừng khai thác hoàn toàn trong giai đoạn 2006 - 2010), đi kèm hệ sinh thái 4 nhóm giải pháp (tổ chức, công nghệ, nhân lực, chính sách) bám sát các báo cáo chiến lược của ngành lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành bởi một sinh viên đại học sư phạm, do đó tác giả đã tự nhận định những hạn chế nhất định về trình độ nhận thức thực tế và kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực lâm học.

Các hạn chế cụ thể được văn bản chỉ rõ:

  • Công trình chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các cơ quan hành chính và lâm trường, chưa có điều kiện tự đo đếm, khảo sát thực nghiệm sinh khối hay cấu trúc tầng tán độc lập trên thực địa.
  • Dữ liệu về tốc độ tăng trưởng sinh khối của rừng Đắk Lắk chưa được điều tra nghiên cứu toàn diện tại thời điểm viết, mà phải kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đó của Trường Đại học Tây Nguyên và Lâm trường Ea Súp (ghi nhận rừng khộp tăng trưởng ~2,1%/năm, rừng thường xanh khu vực Đắk Nông - Đắk R'lấp tăng trưởng ~3,5%/năm).

Hướng mở nghiên cứu tiếp:

  • Cần có các khảo sát định lượng chuyên sâu về trữ lượng và chu kỳ sinh trưởng của từng phân loài thực vật rừng trên địa bàn.
  • Theo dõi và đánh giá tác động sau khi tỉnh Đắk Lắk chia tách địa giới hành chính (thành lập tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông vào đầu năm 2004) đối với công tác quy hoạch, cũng như kiểm chứng kết quả thực hiện lộ trình đóng cửa rừng tự nhiên giai đoạn 2006 - 2010.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang giá trị tham khảo học thuật hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Địa lý, Sư phạm Địa lý, Quản lý Tài nguyên - Môi trường và Kinh tế Lâm nghiệp.

Các phần nội dung có giá trị tham chiếu cao bao gồm:

  • Dữ liệu địa lý tổng hợp về 7 vùng sinh thái rừng Đắk Lắk và hiện trạng tài nguyên rừng nguyên trạng năm 2002 - thời điểm trước khi địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũ được chia tách thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.
  • Tài liệu lưu trữ về hiện trạng các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng phòng hộ thời kỳ 2000 - 2002 (như Yok Đôn, Chư Yang Sin, Tà Đùng, Nam Nung, Ea Sô, Dray Sáp...).
  • Bức tranh toàn cảnh về tác động của làn sóng di dân cơ học và mở rộng diện tích cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu) đối với diễn thế tài nguyên rừng Tây Nguyên giai đoạn 1990 - 2002.

Câu hỏi thường gặp

1. Tài nguyên rừng tỉnh Đắk Lắk được phân bố theo những vùng sinh thái nào và khu vực nào có diện tích rừng lớn nhất?
Tài nguyên rừng Đắk Lắk năm 2002 được phân chia theo 7 vùng sinh thái: Bình nguyên Ea Súp, Cao nguyên Buôn Ma Thuột - Krông Búk - Ea H'Leo, Cao nguyên M'Đrắk, Vùng trũng Krông Pắc - Lắk, Cao nguyên Đắk Mil - Đắk Nông, Miền núi cao Chư Yang Sin, và Đồi núi Rlang Dịa. Trong đó, Bình nguyên Ea Súp có diện tích rừng lớn nhất với 326.173 ha (chiếm 32,06% diện tích rừng toàn tỉnh), tiếp theo là Cao nguyên Đắk Mil - Đắk Nông với 255.406 ha (chiếm 25,09%).

2. Hai nhóm đất chính nào có diện tích lớn nhất tại Đắk Lắk và đóng vai trò gì đối với phát triển lâm nghiệp?
Đắk Lắk có 8 nhóm đất chính, trong đó hai nhóm chiếm diện tích lớn nhất là nhóm đất xám (763.485 ha) và nhóm đất đỏ (704.494 ha). Đất xám là nền tảng phân bố của rừng khộp (vùng Ea Súp), trong khi nhóm đất đỏ (đặc biệt là đất đỏ bazan) gắn liền với thảm rừng thường xanh trên đồi núi và là đối tượng đất đai bị chuyển đổi nhiều nhất sang trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su, tiêu).

3. Đâu là những nguyên nhân chính khiến tài nguyên rừng Đắk Lắk suy giảm nghiêm trọng giai đoạn 1990 - 2000?
Nguyên nhân chủ yếu được văn bản xác định là do sự gia tăng dân số cơ học đột biến (di dân tự do hàng năm từ 2.000 - 3.000 hộ với hơn 10.000 người), việc phá rừng làm nương rẫy, tình trạng khai thác lâm sản trái phép, và đặc biệt là việc ồ ạt phá rừng trồng cây công nghiệp trong giai đoạn "cơn sốt cà phê" (1995 - 1999) khiến diện tích cà phê tăng vọt từ 69.641 ha lên 259.030 ha.

4. Lộ trình đóng cửa rừng tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk được tác giả đề cập như thế nào?
Toàn tỉnh có 974 tiểu khu quy hoạch rừng sản xuất. Theo đề án quản lý, tỉnh sẽ thực hiện đóng cửa 688 tiểu khu rừng sản xuất, chỉ duy trì khai thác tại 286 tiểu khu. Đến giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh sẽ tiến tới đóng cửa hoàn toàn việc khai thác gỗ rừng tự nhiên, chuyển hướng sang khai thác gỗ rừng trồng.

5. Khóa luận ghi nhận đàn voi thuần dưỡng tại Đắk Lắk có số lượng bao nhiêu và phân bố ở đâu?
Văn bản ghi nhận tại các khu vực Bản Đôn, Hồ Lắk và Krông Bông có đàn voi thuần dưỡng với số lượng trên 100 con, là một trong những nét đặc trưng sinh học và văn hóa nổi bật của tỉnh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Hồng Nga đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tài nguyên rừng tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn chuyển biến 1995 - 2002, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận sinh thái của GS.TS. Thái Văn Trừng với chuỗi số liệu thực tế của địa phương. Nghiên cứu chỉ rõ hiện trạng phân bố trên 7 tiểu vùng sinh thái, đánh giá nguyên nhân suy thoái do áp lực dân số và mở rộng cây công nghiệp, đồng thời phản ánh khách quan định hướng chiến lược đóng cửa rừng tự nhiên giai đoạn 2001 - 2010. Công trình là tư liệu tham khảo có giá trị tư liệu lịch sử - địa lý phục vụ nghiên cứu và giảng dạy về địa lý địa phương vùng Tây Nguyên.