Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU o Khái quát một số điểm chủ yếu của lý thuyết liên văn bản Về khái niệm tính liên văn bản o Trước hết cần nói rằng, hai thuật ngữ tính LVB và LVB được sử dụng trong luận án này có nội dung khoa học khác nhau. Tính LVB là một thuộc tính, là kết quả có ở mọi VB nghệ thuật. Khái niệm này có ý nghĩa khoa học hơn vì là nội dung chủ yếu của lý thuyết LVB (intertextuality). Còn khái niệm LVB là mối quan hệ giữa các VB, mục đích LVB là hoạt động của tổ chức VB, có nét nghĩa thi pháp cũng gần với cách hiểu thông thường hơn (các kiểu, thủ pháp LVB).
Tuy nhiên trong quá trình viết, ở một số chỗ trong luận án, có lúc chúng được sử dụng cùng nghĩa, phù hợp với cách diễn đạt trong hoàn cảnh cụ thể. o Cho đến nay, nội hàm của khái niệm tính LVB vẫn chưa được đóng khung, mà ở đó vẫn có những lối mở như chính tên gọi của nó, do “xuất phát từ những hệ quy chiếu khác nhau, lý thuyết về tính LVB trở nên phức tạp, đa nguyên, xuyên trường phái, mở và năng sản” [125, trxxv]. Jacques Derrida cho rằng mỗi VB đều là một phức hợp “ghép nối” [76, tr. Genette cho rằng LVB “.
là việc người đọc nhận thức được những mối quan hệ giữa một tác phẩm và những tác phẩm có sau hoặc trước nó” và đồng nhất LVB với chính nghĩa chữ của nó “LVB là. cơ chế riêng để đọc VB văn học. Chỉ có mình nó làm sản sinh ra sự biểu đạt (signifiance) trong khi cách đọc theo tuyến tính, giống như những VB văn học hoặc phi văn học, lại chỉ sản sinh ra nghĩa (sens)” [138, tr. Còn Riffaterre đã định nghĩa lại tính LVB như sau “nó là một hiện tượng hướng dẫn lối đọc VB, mà lối đọc này sau cùng chi Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam.
Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam. phối sự diễn giải về VB đó, và đó là lối đọc ngược lại với lối đọc tuyến tính. Lối đọc này là một kiểu mẫu tiếp nhận VB chi phối quá trình sản sinh sự tạo nghĩa (signifiance), trong khi lối đọc tuyến tính chỉ chi phối quá trình sản sinh ý nghĩa (sens).
Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam. o Dù có những giới thuyết khác nhau nhưng chúng tôi có thể hiểu, LVB là một tính năng của tất cả VB.
LVB là điều kiện để tạo ra VB. Bất kỳ VB nào khi ra đời, để có thể tồn tại và hiểu được chỉ bằng cách thông qua các mối quan hệ với các VB trước nó. Nhờ đó mà VB tạo ra một quy trình mở trong đó nó vượt qua ranh giới của VB hiện tại để mở rộng đến những gì có thể là bên ngoài nó (bối cảnh, ý thức xã hội, thực tế,. Ý nghĩa của một ý nghĩa được xác định bởi một ý nghĩa khác, đến lượt nó được giải thích bởi một ý nghĩa khác và cứ thế tiếp tục.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi khái quát: LVB là một thuộc tính của diễn ngôn văn học, làm cho văn bản trở thành một đơn vị liên kí hiệu. Tính liên văn bản định hình ý nghĩa của một văn bản trong mối quan hệ với những văn bản khác tạo nên diễn ngôn về văn hóa. Do đó, ý nghĩa văn bản là vô hạn và luôn ở dạng tiềm năng cho đến khi nó được kích hoạt bởi hoạt động đọc. Liên văn bản và nội hàm khái niệm văn bản o Đề xuất khái niệm tính LVB trên cơ sở quan điểm tiên phong của Bakhtin, Julia Kristeva chính là người đã mở đường cho lý luận phê bình hậu hiện đại với những quan điểm quan trọng về nội hàm của VB: VB là “liên văn bản”, là “bức khảm các trích dẫn”, là “sự hấp thu và biến đổi của văn bản khác”,.
Đây là lối đi mở ra cho các nhà hậu cấu trúc, để cùng nhau bổ sung và hoàn thiện nội hàm lý thuyết về tính LVB. Một khái niệm cho đến nay vẫn chưa hoàn tất và xong xuôi. o Qua tác phẩm Từ, đối thoại, tiểu thuyết, Kristeva đã giới thiệu Bakhtin đến các nước phương Tây. Trong công trình này, bà đã đề xuất khái niệm LVB thay thế cho tính đối thoại/tính liên chủ thể của Bakhtin.
Kristeva viết “khám phá mà Bakhtin là người đầu tiên đưa vào trong lý thuyết văn chương: mọi VB đều được xây dựng như một bức chạm Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam. khảm những trích dẫn.
Mọi VB đều là sự hấp thu và chuyển hóa một VB khác”.234]; Kristeva đã sử dụng phép ẩn dụ của một bức tranh khảm để mô tả cách giải thích của mình về nội hàm của LVB trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về tính đối thoại của Bakhtin. Một bức Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam.
tranh khảm thể hiện sự tương tác của nhiều màu sắc, kích cỡ và loại vật liệu khác nhau. Mặc dù một bức tranh khảm là một màn hình cụ thể trong lịch sử của một người nào đó diễn giải hoặc tạo ra một ý tưởng, nhưng bản thân bức tranh không phải là một điểm cố định. Nó có thể phát triển hơn nữa. Chính nó, là một giao điểm của các mẫu, màu sắc và kiểu dáng khác nhau phối kết thành một VB.
Các VB tiếp nhận, tiêu thụ, kết hợp và tiếp thu các VB khác, đồng thời, các chủ đề LVB này được tiếp thu và biến đổi trong các VB khác. Đối với Kristeva, ý nghĩa không thể được xem là một sản phẩm hoàn chỉnh, mà nó luôn trong quá trình sản xuất. Khái niệm tính LVB từ nay thay thế cho khái niệm tính liên chủ thể. Nếu như Bakhtin quan niệm ngữ cảnh là hoàn cảnh xã hội thì Kristeva đã định vị cấu trúc văn chương trong tổng thể xã hội và tổng thể xã hội đó được xem như một tổng thể VB: “hầu như mọi thứ đều được coi như VB: văn học, văn hóa, xã hội, lịch sử và chính bản thân con người; từ đây xuất hiện lí thuyết về tính LVB.
Như vậy, đối với Kristeva thì ngữ cảnh là văn bản xung quanh nó. Từ đó, Kristeva tiến hành quy chiếu VB vào một biểu đồ gồm có hai trục: trục ngang (horizotal axis) – thể hiện mối liên hệ giữa tác giả và người đọc; và trục dọc (vertical axis) – thể hiện cho sự kết nối một VB này với hệ thống VB khác bao quanh nó. Bằng cách cùng quy chiếu hai trục ngang và trục dọc lên một VB, độc giả sẽ nhận ra quy tắc cốt lõi vận hành VB: “mọi VB ngay từ khi bắt đầu đã chịu ảnh hưởng và nằm trong phạm vi tác động của những giải trình ngôn ngữ khác nhau, mà mỗi giải trình ngôn ngữ như thế, luôn luôn chịu chi phối bởi một vũ trụ gồm nhiều VB khác. Trong mối quan hệ của trục dọc mà sơ đồ của Kristeva đề xuất, VB nghiên cứu đã được đặt vào một mạng LVB rộng lớn xung quanh, đó có thể là những VB đồng đại hoặc lịch đại.
Độc giả cần là những người thông thái để có thể phát hiện ra sự biến đổi hoặc dấu vết của sự biến đổi có sự ảnh hưởng từ những VB khác. Cũng cần phải chú ý một vấn đề quan trọng là việc tìm dấu vết của một VB, không nhằm mục đích truy Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam.
tìm nguồn gốc, mà chỉ cho thấy sự liên kết đan xen, chồng chất giữa chúng. Bởi việc truy tìm xuất phát điểm của Với hướng tiếp cận từ lý thuyết LVB, luận án cũng mong muốn đóng góp về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Bởi nghiên cứu văn học nói chung cần có nhiều cách thức tiếp cận, nhiều cách nhìn mới do lý thuyết phê bình đưa lại. Cách tiếp cận từ lý thuyết LVB sẽ góp phần cùng với nhiều lý thuyết nghiên cứu khác chỉ ra trạng thái động trong đời sống thực tiễn của văn học Việt Nam.
một VB là điều khó thực hiện, vì “bất cứ VB nào cũng tạo nên như một bức tranh khảm chứa đựng cả một thiên hà các trích dẫn, bất cứ VB nào cũng mang dấu vết của sự hấp thụ và chuyển thể từ các VB khác. Với quan niệm này, tư tưởng của Kristeva đã đảo ngược lại với tư tưởng của các nhà cấu trúc luận.