CHƯƠNG 1: THỂ KÝ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, phân loại thể ký trong văn học trung đại Việt Nam 1. Khái niệm thể ký Ký là một thể loại xuất hiện từ rất sớm trong văn học các nước phương Đông. Ở Trung Quốc, ký được hiểu theo nghĩa rất rộng “là một thể văn ghi chép sự việc” [60, tr.
Từ trong lịch sử văn học từ nghìn xưa đã có những tác phẩm cổ xưa mang tên ký như Lễ ký, Sử ký đến những tác phẩm tồn tại hầu khắp các trước tác thời trung đại. Các tác phẩm mang tên ký cũng nằm trong vòng trói buộc của quan niệm văn - sử - triết bất phân. Các nhà lý luận văn học cổ Trung Quốc không cho chúng ta một định nghĩa rõ ràng về ký và các tiêu chí phân biệt giữa ký và các thể loại khác. Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long chỉ xếp Ký trong thành phần của tản văn [31].
Ký trong văn xuôi tự sự là một bộ phận của văn học. Mà quá trình của văn học trung đại thực chất là quá trình hình thành, phát triển của các thể loại cũng như các thể tài văn học. Do đó, ký cũng chịu sự tác động của các quy luật chung. Tuy nhiên, với tư cách là một thể văn, ký có một quá trình hình thành nội hàm riêng.
Khi “ký” là một động từ, nó có nghĩa chung là ghi chép. Khi chuyển sang danh từ, “ký” có thời kỳ dài dùng để chỉ các loại công văn, giấy tờ mang tính chất hành chính. Cùng với chỉ các trước tác của các tác giả cổ đại. Với nghĩa ấy, ký bao gồm các tác phẩm văn xuôi nằm trong văn học chức năng.
Đến một giai đoạn nhất định, văn học tiến triển đến một trình độ đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân loại để chỉ ra đặc trưng cùng công năng của từng loại thể. Chân Đức Tú (1178 - 1235), người thời Tống đã đưa ra hai tiêu chí chính để phân loại văn học là “nghĩa lý” và “thể dụng” [dẫn theo Nguyễn Đăng Na, 47, tr. “Nghĩa lý” chính là nội dung tác phẩm còn “thể dụng” chính là chức năng của văn học. Với hai tiêu chí này, có thể tách rất nhiều loại ra thành các loại riêng.
Trong đó, ký cũng được xếp thành một thể riêng. 13 Tuy nhiên, các học giả Trung Quốc thời trung đại cũng chỉ mới dừng lại ở đó mà chưa đưa ra được một lằn ranh rõ ràng để thể ký trong văn học có một chỗ đứng xứng đáng hơn. Tình trạng ký và truyện lẫn lộn trong một tác phẩm còn kéo dài đến thời Thanh. Đơn cử như bộ Duyệt vi thảo đường bút ký của Kỷ Quân.
Trong đó thật rất khó phân biệt đâu là truyện, đâu là ký. Bởi các yếu tố truyền kỳ vẫn còn rất đậm nét, đôi chỗ không biết các yếu tố đó là bút pháp để thể hiện hiện thực hay mặc nhiên là một thành phần cấu tạo nên tác phẩm. Việc định hình và phân loại ký ở Trung Quốc, theo chúng tôi đến thời Thanh mới có một cái nhìn tương đối hoàn chỉnh. Tăng Quốc Phiên trong Kinh sử bách gia tạp sao chia ký thành bốn loại, sau mỗi tên loại đó đều có dẫn giải theo lịch đại nhiều tác phẩm tiêu biểu.
Sự phân loại đó như sau: Sơn thủy du ký: tác giả dẫn giải tác phẩm sớm nhất là bài Phong thiền nghi ký thời Đông Hán, đến thời Thanh thì phát triển rực rỡ, thậm chí vượt ra ngoài phạm vi văn học Đài các danh thắng ký: đây là tiểu loại theo tác giả có liên quan đến văn bia, nhưng mang giá trị văn học cao Thư, họa, khí, vật ký: tiểu loại này liên quan đến đề, bạt, minh văn nhưng chủ yếu là ghi sự việc, văn chương dài dòng và lưu hành riêng Nhân sự tạp ký: tác giả chỉ ra được ký khác truyện ở chỗ chỉ ghi việc mà không chuyên tả người, chỉ ghi mặt nào đó, không cầu toàn diện Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra được sự phức tạp của cái loại tên chung là “Tạp ký” này. Bước vào thời hiện đại, việc nghiên cứu các phạm trù trong văn học cổ trung đại ở Trung Quốc cũng được tiến hành nghiên cứu toàn diện. Ký với tư cách một thể loại văn học cổ được định danh, phân loại, xác định tiêu chí và tìm những giá trị nghệ thuật đặc trưng. Chúng tôi đồng tình với định nghĩa về ký (văn học cổ) của các tác giả Lịch sử văn hóa Trung Quốc: “Cổ đại có nhiều loại văn đặt tên là “ký”, có sách phân loại văn thể gọi chung là “tạp ký”.
Thủ pháp chủ yếu là ghi chép cũng 14 có thể nghị luận hay trữ tình. Hành văn chủ yếu là văn xuôi, có khi cũng dùng biền ngẫu. Nội dung thì cơ hồ bao la, vạn tượng”.417] Trích dẫn trên đã giới thuyết ngắn gọn nhưng rõ ràng cả về nội dung lẫn hình thức của ký, từ đó cũng đưa ra các tiêu chí phân loại. Khi văn học trung đại Việt Nam chính thức ra đời ở thế kỷ X, trong lĩnh vực văn xuôi, cha ông ta đã “lựa chọn các thể văn có sẵn của Trung Hoa, từ đó biến cải chúng cho phù hợp với nhu cầu của cuộc sống từng giai đoạn lịch sử của dân tộc và hòa nhập vào tâm lý thẩm mỹ của người Việt” [47, tr.
Cũng như các học giả cổ điển Trung Quốc, các học giả thời trung đại của Việt Nam cũng không đưa ra những giới thuyết rõ ràng về thể loại. Chúng ta hiện nay có thể tìm hiểu quan niệm của người xưa theo hai cách: quan niệm về ký của các học giả thời trung đại thể hiện qua cách phân loại, sưu tập. Và quan niệm về ký thể hiện qua các lời tựa, bạt, của các tập ký, lục, thuật, truyện. Ở hướng thứ nhất, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) là “người đầu tiên tiến hành phân loại văn học ở Việt Nam” [47, tr.
Trong Nghệ văn chí, sách Đại Việt sử lược, ông chia văn học thành bốn loại, một là hiến chương, hai là thi văn, ba là truyện ký, bốn là phương kỹ [theo Nguyễn Đăng Na, 47] trong đó có một loại gọi là truyện ký [16]. Trong phần Thiên chương, sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn còn công bố một danh sách những tác phẩm văn khắc từ thời Lý - Trần mà trong những lời bình luận cho thấy ông không chỉ chú ý đến nội dung tư tưởng, tình cảm mà còn chú ý về lối văn, ngôn ngữ, nhịp điệu của tác phẩm [15]. Sau Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích (1744 - 1818) dành toàn bộ quyển II trong tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển cho việc tuyển chọn những bài ký tiêu biểu. Qua việc tuyển chọn cho thấy quan niệm về ký của ông đã rõ ràng hơn: các tác phẩm được chọn đều mang tên là ký hoặc bi ký [4].
Phan Huy Chú (1782 - 1840) trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí trong khi sắp xếp các tác phẩm ông cho là truyện ký đã có sự tách biệt giữa văn với các loại sự ký, cương mục [10]. Từ quan điểm phân loại của các học giả trung đại, có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của loại truyện ký như sau: đó là những tác phẩm văn xuôi ghi chép chữ Hán về đủ các lĩnh vực, sự 15 ghi chép có kết cấu tương đối đơn giản và tự do, bút pháp ghi chép người thật, việc thật, theo sự phát triển của các sự kiện lịch sử, có cốt truyện nhân vật hay ghi chép tư liệu đơn thuần. Ở hướng tìm hiểu thứ hai, thông qua tìm hiểu những bài tựa, bạt do chính các tác gia trung đại viết, trong đó nói rõ quan niệm và mục đích ghi chép của tác phẩm. Vũ Phương Đề đã đưa ra một kiểu ghi chép mà về sau trở thành một xu hướng nổi bật của thể loại ghi chép ở giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Trong bài tựa Công dư tiệp ký, tác giả khẳng định chỉ ghi chép xác thực: “Ngày thường tôi rất ưa truyện cổ, thế là lúc việc công rảnh rỗi, ghi chép những điều đã nghe trước đây và những điều đã nghe được từ các bậc quân tử học rộng biết nhiều. Nói chung những điều mà tôi nắm được thì cứ theo sự thực mà viết ra, gộp lại thành thiên, đặt tên là Công dư tiệp ký” [10] Lê Quý Đôn trong các tác phẩm của mình cũng luôn đề cao tính xác thực của ghi chép và mong độc giả đừng xem là tiểu thuyết [15]. Nhìn chung, các học giả thời trung đại đã có ý thức xác định tiêu chí đặc trưng nhất của ký: đó là những ghi chép bằng chữ Hán, ghi lại một cách chân thực những sự việc, nhân vật theo những gì tai nghe, mắt thấy. Nội dung phong phú, bút pháp đan xen giữa hiện thực và trữ tình, không hạn chế yếu tố kỳ ảo.
Tuy nhiên, các học giả không đưa ra giới thuyết về thể loại, cũng như những tiêu chí phân loại của ký thời kỳ này. Các nhà nghiên cứu văn học thời hiện đại cũng đã từng bước xác nhận sự tồn tại của thể loại ký trong văn xuôi tự sự thời trung đại. Việc nghiên cứu thể loại về đối tượng phản ánh cũng khá toàn diện và có những đề xuất cách hiểu hợp lý. Góp phần khẳng định vấn đề, Nguyễn Đăng Na trong Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam đã đưa ra những dẫn chứng cho thấy trong sáng tác chúng ta có những tác phẩm ký thực sự.
Đó là, khi viết bài giới thiệu cho từng tác phẩm cụ thể cho các tác phẩm gọi là Truyện ký như Thượng kinh ký sự, Tang thương ngẫu lục, Thoái thực ký văn, Bắc hành tùng ký… thì các dịch giả hoặc người giới thiệu đều gọi chúng là ký sự. Chẳng hạn Trương Chính, trong lời giới thiệu cho sách Tang thương ngẫu lục có viết: “Có điều, tập ký sự này lại giàu chất hoang đường”. Còn đây là 16 nhận xét của Hoàng Xuân Hãn: “Lê Quýnh còn để lại một tập ký sự Bắc hành tùng ký ghi lại những biến cố xảy ra có quan hệ đến bản thân …”. Và nhà xuất bản Tân Việt có đôi lời cùng bạn đọc rằng: “… trong lòng chúng tôi sẽ hết băn khoăn khi cho ra mắt bạn đọc tập tùy bút Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng”.
Ở một chỗ khác, giới thiệu Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Trương Chính giải thích: “Tùy bút là viết theo ngọn bút, gặp đâu nói đó, không có hệ thống”.