MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tiêu thụ là khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội, nó là mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phân phối hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế và gia tăng lợi ích cho người sản xuất và người tiêu dùng. Ở các nước đang phát triển, do trình độ phát triển của kinh tế thị trường còn thấp, quan hệ hàng hóa – tiền tệ chưa thật sự phát triển nên việc tiêu thụ hàng hóa trong đó có nông sản còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của người sản xuất, của người tiêu dùng và cả nền kinh tế. Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, sự phát triển của ngành này có vai trò quyết định trong việc ổn định một khu vực rộng lớn của nền kinh tế, đảm bảo hài hòa mối quan hệ nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Vì vậy, hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản nhằm đáp ứng tốt nhất lợi ích của các chủ thể là vấn đề mang tính cấp thiết. Việt Nam là một nước nông nghiệp, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn với hơn 10 triệu hộ nông dân, 30 triệu người trong trong độ tuổi lao động đang sống ở nông thôn. Khoảng 1/4 tổng GDP và khoảng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu từ nông nghiệp. Những năm gần đây, khu vực nông nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo nhiều của cải, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh xuất khẩu.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, sự phát triển của khu vực này còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng của nó, gần 90% hộ nghèo của cả nước nằm ở khu vực này, bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị còn lớn, đô thị hóa khiến sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, hội nhập kinh tế quốc tế khiến nông dân là những người dễ bị tổn thương nhất; mối quan hệ nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa được đảm bảo chặt chẽ và bền vững; vấn đề đầu ra cho nông sản…Trong tất cả những vấn đề trên, tiêu thụ nông sản cho nông dân là vấn đề nổi cộm và có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân. Nhiều nông sản Việt Nam hiện nay chiếm vị trí hàng đầu trên thị trường nông sản thế giới nhưng lượng giá trị thu về còn khiêm tốn hay nói cách khác, phần giá trị gia tăng của nông sản trong chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế. Thực tế hiện nay cho thấy, tiêu thụ nông sản đang có nhiều bất cập: Giá cả không ổn định, chi phí lưu thông quá cao, phần giá trị mà người nông dân được hưởng trong giá trị nông sản rất thấp, người nông dân luôn phải đối mặt với tình trạng: mất mùa lo đói, được mùa lo rớt giá; thêm vào đó, hoạt động đầu cơ của tư thương và một số doanh nghiệp thương mại làm cho quá trình tiêu thụ nông sản thêm lòng vòng, rối ren và dễ mất cân đối đã ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của người nông dân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên đó là chính sách tiêu thụ nông sản còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với việc đưa nền nông 11 z nghiệp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà trước hết là thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới.
Chính sách tiêu thụ nông sản là một chính sách lớn, bao trùm gồm các chính sách bộ phận: Chính sách giá cả, sản lượng nông sản; chính sách bảo quản, chế biến nông sản; chính sách xúc tiến thương mại nông sản, chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản chưa được phối hợp một cách đồng bộ. Việc khắc phục những hạn chế trong các chính sách về tiêu thụ nông sản từ đó hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản hợp lý, hiệu quả có ý nghĩa trên nhiều phương diện, không chỉ đem lại lợi ích trước mắt cho người nông dân, doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội; mà còn có ý nghĩa lâu dài, góp phần quan trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân, xóa đói - giảm nghèo bền vững, giải quyết tốt mối quan hệ nông thôn - thành thị…Điều đó cho thấy, chính sách tiêu thụ nông sản có vai trò rất quan trọng trong giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân; trong ổn định kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Nông nghiệp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh do điều kiện tự nhiên thuận lợi và chi phí nhân công thấp. Tuy nhiên, những lợi thế này ngày càng giảm trong điều kiện cạnh tranh thương mại toàn cầu hiện nay.
Sau 6 năm gia nhập WTO, nông sản Việt Nam đã có vị trí quan trọng trên thị trường nông sản thế giới với vị trí số 1 (xuất khẩu hạt tiêu, hạt điều), vị trí số 2 (xuất khẩu gạo, cà phê), cùng với nó là những cam kết được thực hiện nghiêm túc, đúng với quy định của WTO. Nhưng bên cạnh đó còn tồn tại nhiều hạn chế về mặt chính sách khiến cho bài toán về việc đẩy mạnh tiêu thụ về lượng nhưng chưa đi kèm với những lợi ích thiết thực mang về cho đất nước, cho nông dân vẫn chưa có lời giải thỏa đáng. Nguyên nhân của tình trạng này là điều hành vĩ mô chưa thật sự linh hoạt trong bối cảnh thị trường nông sản thế giới đang có nhiều xu hướng phát triển mới như: sự gia tăng của các nhà bán lẻ trong việc đảm nhận khâu tiêu thụ thậm chí cả khâu sản xuất và mang thương hiệu của họ, xu hướng hợp nhất nhiều công đoạn trong việc tạo ra giá trị nông sản, xu hướng gia tăng vai trò của các nước đang phát triển trong việc cung cấp nông sản cũng như tiêu thụ do khu vực này chiếm tỷ lệ dân số lớn trên toàn cầu,…Những xu hướng mới của thị trường nông sản thế giới cũng chỉ ra những cơ hội và thách thức lớn đối với nông sản Việt Nam, điều đó cũng đồng nghĩa nó tạo ra áp lực trong việc ban hành và thực hiện các chính sách trong điều kiện, bối cảnh mới nhằm phát huy hết tiềm năng, hạn chế tối đa những yếu kém để đạt được hiệu quả cao nhất. Sự điều tiết của Nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề trên là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với Việt Nam hiện nay.
Việt Nam đã chính thức trở thành Thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ 1/2007 và đang tích cực thực hiện các cam kết theo lộ trình hội nhập, trong đó có các cam kết về tiêu thụ nông sản. Sự tham gia của các công ty nước ngoài trong việc 12 z thu mua hàng hóa (trong đó có nông sản) trên thị trường Việt Nam đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Mặc dù có một số quy định bắt buộc khi kinh doanh tại nước sở tại (theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 4 tháng 11 năm 2010), người nông dân Việt Nam sẽ có thêm nhiều sự lựa chọn trong hoạt động tiêu thụ nông sản nhưng điều này cũng báo hiệu một cuộc cạnh tranh gay gắt và những biến động không nhỏ trên thị trường nông sản Việt Nam. Bên cạnh sự nỗ lực nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh của nông dân và các doanh nghiệp, rất cần chính sách hợp lý từ phía Nhà nước nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể và cho cả nền kinh tế.
Vì vậy, câu hỏi đặt ra là, chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới đã thật sự phù hợp chưa? Cần phải làm gì và làm như thế nào để hoàn thiện và phát huy vai trò của chính sách tiêu thụ nông sản để tăng vị thế của nông dân, gia tăng giá trị mà người nông dân nhận được trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu? Việc nghiên cứu thực trạng và tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản của Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và cấp thiết về thực tiễn. Chính vì vậy, “Chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới” được Nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài luận án tiến sỹ. Tình hình nghiên cứu Chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam được nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, đề tài cấp bộ, bài đăng báo, tạp chí, bài viết hội thảo các cấp. cho thấy có nhiều công trình đề cập đến chính sách tiêu thụ nông sản theo các vấn đề sau: 2.
Về chính sách giá cả, sản lượng nông sản - Sách chuyên khảo của Phan Huy Đường (2006), Tiêu thụ nông sản Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Khoa học – Xã hội. Công trình khoa học của tác giả Phạm Văn Khôi (2007), Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, Nxb Đại học kinh tế quốc dân. Công trình của Nguyễn Tiến Dũng (2010), Gia nhập WTO và điều chỉnh chính sách trong ngành nông nghiệp Việt Nam. Đề tài NCKH cấp trường (Đại học kinh tế - ĐHQGHN).
Các bài viết này đã phân tích cập nhật tình hình thị trường nông sản thế giới và trong nước, những biến động về giá nông sản và cơ hội của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Các tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị trong việc tận dụng cơ hội về điều kiện thị trường thuận lợi để xuất khẩu những mặt hàng nông sản có lợi thế của Việt Nam. Vì vậy, mới chỉ dừng lại ở khâu lưu thông, giá trị đem lại 13 z phải đảm bảo hài hòa cho các chủ thể cả sản xuất và tiêu thụ. Trong cuốn sách Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội của GS.TS Hoàng Ngọc Hòa (2008), - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2006), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ một số nông sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu chè, cà phê, điều, Nxb Lý luận chính trị Hà Nội.